
Đó là quan điểm của TS. Trần Du Lịch xung quanh câu chuyện chính sách đối với thị trường và ngành công nghiệp ôtô Việt Nam.
“Có rất nhiều biện pháp để hạn chế ôtô (qua đó giảm ách tắc giao thông và hạn chế nhập siêu – PV) mà ta lại không làm? Chẳng hạn như tăng thuế tiêu thụ đặc biệt lên, tăng bao nhiêu cũng được; hay là tăng các loại phí dịch vụ khác như phí cầu đường, phí đăng ký lên... mà không cần động tới tăng thuế nhập khẩu.
Chúng ta hội nhập rồi, tăng thuế nhập khẩu vừa không phù hợp với xu hướng cam kết hội nhập, vừa bảo hộ cho các liên doanh sản xuất ôtô trong nước”, TS. Trần Du Lịch, Viện trưởng Viện Kinh tế Tp.HCM, đại biểu Quốc hội khóa XII, bày tỏ quan điểm.
Vậy theo ông, việc tăng mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với ôtô nguyên chiếc từ 60% lên 83% và đối với linh kiện ôtô thêm 3-5% của Bộ Tài chính thời gian vừa qua sẽ đem lại kết quả gì?
Tôi thấy việc tăng thuế nhập khẩu như vậy chẳng giải quyết vấn đề gì cả. Vì vậy tôi đề nghị bỏ chuyện tăng thuế nhập khẩu và thay vào đó là tăng thuế tiêu thụ đặc biệt.
Mới đây Chính phủ cũng đã đồng ý cho Bộ Tài chính thừa uỷ quyền Thủ tướng báo cáo Quốc hội xem xét việc điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt theo hướng tăng lên đấy thôi?
Nhưng câu hỏi là bao giờ? Hiện tôi vẫn chưa thấy câu chuyện thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ôtô trong chương trình làm việc của Quốc hội khóa XII tại kỳ họp thứ 3 này.
Nếu tăng thuế tiêu thụ đặc biệt thì nên bỏ việc tăng thuế nhập khẩu đi, bởi có khác gì nhau về mặt lượng đâu. Theo tôi thì cứ tăng cho đủ đi, rồi thậm chí buông thuế nhập khẩu xuống 60%, thậm chí 50% vẫn không sao.
Tôi cho rằng ngay từ đầu năm, Bộ Tài chính, Chính phủ nên đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho điều chỉnh ngay thuế tiêu thụ đặc biệt đồng thời ban hành ngay biểu phí đăng ký ôtô dưới 9 chỗ ngồi, ở bất kỳ địa phương nào, tránh tình trạng hạn chế tại các thành phố lớn nhưng lại dồn về các tỉnh. Khi đó, nhu cầu ôtô trong nước, ngoài nước đều đứng lại cả.
Có thể là do chúng ta đã bị rối ngay ở việc xác định mục đích chính, xác định việc nào làm trước, việc nào làm sau trong điều hành chính sách?
Đây lại là một vấn đề khác. Cái gốc của vấn đề tôi cho là trong 10 năm qua, Chính phủ đã thất bại trong chính sách nội địa hoá ngành công nghiệp ôtô. Bên cạnh đó cũng cần xem xét kỹ trách nhiệm của Bộ Công nghiệp trước đây và Bộ Công Thương hiện nay trong vấn đề này là gì.
Nhưng thưa ông, trên thực tế, việc phát triển ngành công nghiệp ôtô phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thuế, mà đó chính là công cụ do Bộ Tài chính quản lý?
Không phải vậy, khi xây dựng chiến lược tổng thể bao giờ cũng có giải pháp tổng thể, trong đó đề nghị Chính phủ đóng vai trò chỉ huy, chỉ đạo các bộ ngành thực hiện. Không thể làm chiến lược ôtô mà giải pháp lại để anh khác làm được, mà ngay từ đầu đã phải đề xuất về chính sách tín dụng, về thuế... để qua đó có được giải pháp tổng thể.
Có ý kiến cho rằng 5 lần điều chỉnh thuế ôtô trong vòng 16 tháng qua đã cho thấy Bộ Tài chính dường như không lường trước được tác động của chính sách mà mình đưa ra, chẳng hạn như để hạn chế nhập thì lượng nhập lại tăng vọt?
Tôi cho rằng mục tiêu chủ yếu của những đợt điều chỉnh đó là hạn chế sử dụng ôtô du lịch trong nước trong điều kiện hạ tầng còn yếu kém của chúng ta. Hạn chế bằng cách tăng giá xe và tăng phí. Nhưng việc tăng giá xe chỉ bằng tăng thuế nhập khẩu là chưa đúng mà vấn đề còn ở thuế tiêu thụ đặc biệt.
Nhưng nhu cầu ôtô của người dân là thực và dù có các chính sách hạn chế thì nhu cầu đó vẫn tăng cao thì sao?
Theo tôi thì không hẳn thế. Việc hạn chế sẽ có tác dụng với một phân khúc thị trường cụ thể mà thôi. Dĩ nhiên có những người có khả năng mua xe với giá 1 triệu USD thì anh có nâng thuế lên bao nhiêu họ vẫn cứ mua. Nhưng có tầng lớp chỉ có thể mua tầm tiền này thôi, nếu vượt qua tầm đó thì không mua nữa, và việc hạn chế sẽ có tác dụng đối với tầng lớp này.
Trong thời gian qua, lượng xe sang, siêu sang có giá trị lớn được nhập về nhiều và chiếm tỷ trọng cao trong số ôtô nhập khẩu, vậy theo ông có nên đánh thuế tiêu thụ đặc biệt cao với loại này không?
Bây giờ chúng ta phải nghiên cứu thang thuế trên giá trị để điều tiết. Ví dụ người có 1 triệu USD hay 500.000 – 700.000 USD mua xe thì chúng ta sẽ điều tiết lớn hơn...
Vậy điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt theo hướng như vậy ngay bây giờ có là vội vàng không, thưa ông?
Thực sự tôi cho rằng ban hành bây giờ là chậm chứ không phải vội vàng.




Bộ Tài chính đề xuất kéo dài thời hạn nộp một số loại thuế và tiền thuê đất trong năm 2026 với tổng quy mô ước tính khoảng 125.000 tỷ đồng. Giải pháp này nhằm tạo thêm dư địa tài chính cho doanh nghiệp và người dân, qua đó góp phần duy trì đà phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế...
Cơ quan thuế cảnh báo tình trạng gian lận hoàn thuế đang gia tăng trên môi trường số với nhiều thủ đoạn tinh vi, lợi dụng đặc tính ẩn danh và xuyên biên giới của thương mại điện tử. Qua công tác giám sát, 5 kịch bản gian lận được chỉ rõ, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải siết chặt quản lý và tăng cường kết nối dữ liệu liên ngành…
Bộ Tài chính đề xuất phân chia người nộp thuế thành ba nhóm theo mức độ tuân thủ và rủi ro, nhằm phục vụ quản lý thuế dựa trên dữ liệu. Cơ chế này giúp xác định mức độ ưu tiên, phân bổ nguồn lực phù hợp và áp dụng biện pháp quản lý tương ứng với từng nhóm, qua đó nâng cao hiệu quả giám sát và hỗ trợ người nộp thuế…
Trước những thông tin bác bỏ quy định ngân hàng phải cung cấp thông tin tài khoản người nộp thuế, Cục Thuế khẳng định nội dung này vẫn được giữ nguyên. Điều này nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, đồng thời bảo đảm tuân thủ pháp luật về thuế và phòng ngừa rủi ro thất thu ngân sách...
Tình hình thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận mức tăng trưởng vô cùng khả quan. Theo báo cáo mới nhất từ Ủy ban nhân dân tỉnh, tổng thu ngân sách toàn tỉnh ước đạt 26.499,2 tỷ đồng, tăng trưởng 12,6% so với cùng kỳ năm trước và đã xuất sắc hoàn thành 51,3% dự toán năm được giao.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.