
PwC Việt Nam vừa công bố ấn phẩm “Chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ: Tác động và định hướng ứng phó cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam”. Đây là kết quả khảo sát chuyên sâu được PwC Việt Nam thực hiện trong tháng 6/2025.
Trong số các doanh nghiệp tham gia khảo sát, có 33% doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu trực tiếp sang Hoa Kỳ, trong khi 67% không xuất khẩu.
Báo cáo nhận định năm 2025, các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ tại Việt Nam đang vận hành trong một môi trường đầy biến động và thách thức. Cả hai lĩnh vực đều lo ngại về sự bất ổn kinh tế vĩ mô, chi phí leo thang và áp lực tuân thủ quy định.
Đặc biệt, ngành sản xuất đang chịu tác động nặng nề hơn từ làn sóng bảo hộ thương mại và những biến động khó lường tại các thị trường xuất khẩu. Trong khi đó, các doanh nghiệp dịch vụ đang đối mặt với những thách thức riêng, bao gồm sự thay đổi nhanh chóng trong hành vi tiêu dùng và bài toán quản lý nguồn nhân lực ngày càng phức tạp.
Với chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, 86% doanh nghiệp được hỏi bày tỏ mối quan ngại đáng kể về những tác động tiêu cực tiềm tàng của thuế quan Hoa Kỳ đối với hoạt động kinh doanh.
Khảo sát cũng cho thấy các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ chịu tác động lớn nhất từ chính sách thuế của nước này. Do chi phí đầu vào tăng và sức cạnh tranh suy giảm tại thị trường Hoa Kỳ. Các loại thuế trả đũa có thể đẩy giá lên cao, làm giảm khả năng cạnh tranh so với các đối thủ.
Mặt khác, chi phí cao hơn có thể khiến các đối tác Hoa Kỳ giảm đơn hàng hoặc chuyển sang nhà cung cấp khác. Các doanh nghiệp có thể đối mặt với việc tăng chi phí pháp lý, kiểm toán và tài liệu.
"23% doanh nghiệp dự đoán chi phí gia tăng sẽ là tác động chính của thuế quan Hoa Kỳ, tiếp theo là dịch chuyển thị trường và nhu cầu giảm từ phía Hoa Kỳ (đều ở mức 15%)”, báo cáo chỉ rõ.
Hơn nữa, những tác động dây chuyền từ các vấn đề liên quan đến Hoa Kỳ hoặc Trung Quốc làm gián đoạn chuỗi cung ứng, có thể gây chậm trễ sản xuất và mất ổn định hoạt động.
Còn đối với những doanh nghiệp sản xuất nhưng không xuất khẩu sang Hoa Kỳ, tác động từ chính sách thuế quan của Hoa Kỳ chỉ ở mức trung bình. Do biến động chuỗi cung ứng, các nhà cung cấp cho doanh nghiệp FDI hoặc các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ có thể đối mặt với việc giảm đơn đặt hàng hoặc các yêu cầu nghiêm ngặt hơn.
Các rào cản xuất khẩu có thể chuyển hướng hàng hóa sang thị trường trong nước, làm gia tăng cạnh tranh. Căng thẳng thương mại có thể gây ra biến động tiền tệ và giá nguyên liệu nhập khẩu tăng cao, gây ảnh hưởng đến chi phí sản xuất.
Trước biến động thuế quan từ Hoa Kỳ, khảo sát cũng cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đang trải qua một quá trình chuyển đổi toàn diện từ chuỗi cung ứng và sản xuất đến thị trường và dịch vụ nhằm thích nghi và duy trì năng lực cạnh tranh.
Khởi đầu là chuỗi cung ứng, nơi các doanh nghiệp đang nhận thức rõ rủi ro khi phụ thuộc quá mức vào một nguồn cung duy nhất là Trung Quốc. Việc đa dạng hóa nhà cung cấp, đặc biệt là hướng tới các khu vực ổn định hơn, đã trở thành yếu tố cần thiết. Đồng thời, nhiều doanh nghiệp cũng nhận thấy cơ hội để đàm phán lại hợp đồng với nhà cung cấp nhằm kiểm soát chi phí tốt hơn và cải thiện dòng tiền.
Về mặt thị trường, khi các điểm đến xuất khẩu truyền thống trở nên khó đoán định hơn, các doanh nghiệp Việt Nam đang mở rộng sang thị trường EU, ASEAN và Nhật Bản nhằm tận dụng mạng lưới Hiệp định thương mại tự do vững chắc của quốc gia. Song song, họ cũng đang tinh chỉnh các chiến lược định giá và tăng cường sự hiện diện thương hiệu kỹ thuật số tại các thị trường hiện có để khai thác tiềm năng chưa được tận dụng.
Cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đa quốc gia đều tập trung vào các giải pháp tối ưu chi phí trong quy trình sản xuất, với tỷ lệ lần lượt là 63% và 37%. Mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả và giảm thiểu lãng phí thông qua các sáng kiến như sản xuất tinh gọn, tự động hóa quy trình, và đầu tư vào công nghệ sản xuất tiên tiến.
Báo cáo nhận định việc áp đặt thuế quan đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ đang làm tăng chi phí trực tiếp và giảm khả năng cạnh tranh. Để thích nghi, cần có một chiến lược đồng bộ - không chỉ đơn thuần là "cắt giảm chi phí" mà là "tái cấu trúc" hướng tới sự bền vững và linh hoạt.
Theo đó, cần chuyển đổi từ các hoạt động truyền thống sang các mô hình tinh gọn, linh hoạt, số hóa và giảm sự phụ thuộc vào một thị trường duy nhất là cách hiệu quả nhất để vượt qua giai đoạn bất ổn này một cách kiên cường.
Ông Mohammad Mudasser Giám đốc, Dịch vụ Tư vấn Thương vụ - Chuyển đổi PwC Việt Nam nhấn mạnh: "Năm 2025 mở ra nhiều thách thức nhưng cũng đầy tiềm năng cho ngành sản xuất và dịch vụ Việt Nam. Với chiến lược đúng đắn và tận dụng thế mạnh nội tại, chúng ta có thể biến khó khăn thành cơ hội, thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới bền vững”.
TP. Hồ Chí Minh sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm tại các chợ đầu mối từ kiểm soát nguồn hàng, truy xuất nguồn gốc, lấy mẫu giám sát đến ứng dụng công nghệ trong quản lý, hướng tới xây dựng các chợ đầu mối đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chợ đầu mối kinh doanh thực phẩm...
Trước áp lực giá thế giới tăng vọt, trong kỳ điều hành ngày 23/7, giá xăng dầu trong nước đồng loạt tăng mạnh. Để kìm hãm đà tăng, liên Bộ quyết định chi sử dụng Quỹ bình ổn từ 1.000 - 1.500 đồng/lít…
Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành thép Việt Nam bứt phá với mức tăng trưởng về sản xuất và tiêu thụ đạt hai con số, trong đó thép cuộn cán nóng (HRC) đóng vai trò động lực chính. Dù vậy, ngành vẫn đối mặt với thách thức lớn từ biến động giá nguyên liệu và áp lực phòng vệ thương mại tại các thị trường xuất khẩu...
Nông dân ngày nay không chỉ cần am hiểu kỹ thuật mà còn phải biết tổ chức sản xuất, tiếp cận thị trường, đáp ứng các quy định xuất khẩu và ứng dụng công nghệ số. Vì vậy, công tác khuyến nông cần chuyển đổi từ hướng dẫn kỹ thuật sang tư vấn phát triển vùng sản xuất nông nghiệp bền vững...
Từ những khung cửi mộc mạc trong các nếp nhà sàn, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào các dân tộc ở các xã Lâm Bình và Thượng Lâm (tỉnh Tuyên Quang) không chỉ được gìn giữ như một di sản văn hóa mà còn từng bước trở thành sinh kế bền vững, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và tạo nên sản phẩm đặc trưng phục vụ phát triển du lịch cộng đồng...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.