Trong bối cảnh giao thông vận tải được coi là một trong những lĩnh vực phát thải lớn nhất tại châu Âu và đóng vai trò then chốt trong Thỏa thuận Xanh châu Âu, những cảnh báo mới nhất từ Tòa Kiểm toán châu Âu đang cho thấy khoảng cách ngày càng lớn giữa tham vọng khí hậu và năng lực triển khai hạ tầng trên thực tế.
HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC CHẬM TIẾN ĐỘ, ĐỘI VỐN MẠNH
Theo báo cáo mới công bố của Tòa Kiểm toán châu Âu (ECA), mục tiêu hoàn thành Mạng lưới Giao thông Xuyên châu Âu (TEN-T) vào năm 2030 gần như chắc chắn không đạt được nếu xu hướng chậm tiến độ và đội vốn tiếp tục kéo dài.
Kể từ năm 2020, EU đã phân bổ khoảng 15,3 tỷ euro ngân sách chung cho các dự án TEN-T, bao gồm các tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa, cảng biển và sân bay trọng điểm. Tuy nhiên, 8 “siêu dự án” được ECA đánh giá cho thấy chi phí thực tế đã tăng trung bình 47% so với dự toán ban đầu; đến năm 2025, mức đội vốn đã vượt ngưỡng 82%.
Trong bối cảnh giao thông vận tải được coi là một trong những lĩnh vực phát thải lớn nhất tại châu Âu và đóng vai trò then chốt trong Thỏa thuận Xanh châu Âu, những cảnh báo mới nhất từ Tòa Kiểm toán châu Âu cho thấy khoảng cách ngày càng lớn giữa tham vọng khí hậu và năng lực triển khai hạ tầng thực tế.
Hai dự án đóng góp lớn nhất vào mức tăng chi phí này là Rail Baltica - tuyến đường sắt chiến lược kết nối các quốc gia vùng Baltic với mạng lưới đường sắt châu Âu và tuyến đường sắt cao tốc Lyon–Turin, công trình then chốt trong kết nối giao thông giữa Pháp và Italy. Ngoài ra, dự án kênh đào Seine Nord Europe cũng ghi nhận tổng chi phí tăng gấp ba lần kể từ khi khởi động.
Theo ECA, đại dịch Covid-19 và xung đột Nga - Ukraine đã khiến giá năng lượng và vật liệu xây dựng leo thang, song đây chủ yếu là yếu tố làm trầm trọng thêm những hạn chế tồn tại từ lâu trong công tác lập kế hoạch, phê duyệt và quản trị các dự án hạ tầng quy mô lớn.
GIÁM SÁT PHÂN TÁN, DỰ ÁN KÉO DÀI HÀNG CHỤC NĂM
Điểm nhấn đáng chú ý trong báo cáo của ECA là vai trò giám sát của Ủy ban châu Âu đối với tiến độ hoàn thành TEN-T tại các quốc gia thành viên vẫn còn lỏng lẻo.
Các kiểm toán viên cho rằng, dù đã có những cảnh báo rõ ràng từ báo cáo năm 2020, các biện pháp điều chỉnh sau đó chưa đủ mạnh để đảo chiều tình trạng chậm trễ kéo dài.
Báo cáo năm 2020 ghi nhận mức chậm tiến độ trung bình khoảng 11 năm so với kế hoạch ban đầu. Đến báo cáo mới nhất, con số này đã tăng lên 17 năm đối với năm trong số các dự án được đánh giá, cho thấy mức độ trì hoãn ngày càng nghiêm trọng.
Tuyến đường sắt Basque Y tại Tây Ban Nha, theo kế hoạch ban đầu phải vận hành từ năm 2010 và điều chỉnh sang năm 2023, nay sớm nhất cũng phải đến năm 2030 mới có thể hoàn thành. Tuyến Lyon-Turin được dự báo khai trương vào năm 2033, trong khi hầm Brenner Base - một trong những công trình đường sắt ngầm lớn nhất châu Âu - có thể chỉ hoàn tất sau năm 2032.
Theo ECA, việc các quốc gia thành viên ưu tiên lợi ích và tiến độ riêng, trong khi thiếu một cơ chế điều phối đủ mạnh ở cấp EU, đang làm suy yếu mục tiêu xây dựng một mạng lưới giao thông thống nhất, hiệu quả và bền vững.
ÁP LỰC LÊN MỤC TIÊU KHÍ HẬU VÀ KINH TẾ XANH
Sự chậm trễ của TEN-T đang tạo ra sức ép trực tiếp lên lộ trình giảm phát thải của EU. Giao thông vận tải hiện là một trong những lĩnh vực phát thải khí nhà kính lớn nhất tại châu Âu.
Việc các tuyến đường sắt, đường thủy nội địa và hạ tầng vận tải sạch không được hoàn thiện đúng hạn khiến EU gặp khó trong việc dịch chuyển lưu thông từ đường bộ sang các phương thức ít phát thải hơn.
Ở góc độ kinh tế, một hệ thống giao thông phân mảnh và kém hiệu quả sẽ làm gia tăng chi phí logistics, ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và thu hẹp cơ hội thương mại trong nội khối.
Trong bối cảnh EU đang thúc đẩy mô hình tăng trưởng dựa trên kinh tế xanh và phát triển bền vững, những điểm nghẽn hạ tầng giao thông đang trở thành rào cản lớn.
Theo ước tính của Cộng đồng các doanh nghiệp đường sắt và hạ tầng châu Âu (CER), để hoàn thiện TEN-T, EU cần khoảng 500 tỷ euro vào năm 2030 và lên tới 1.500 tỷ euro vào năm 2050.
Bài toán đặt ra không chỉ là huy động nguồn vốn, mà còn là cải thiện quản trị dự án và tăng cường cam kết chính sách nhằm bảo đảm hạ tầng giao thông thực sự trở thành động lực cho mục tiêu khí hậu và kinh tế xanh của châu Âu.
Trong tiến trình chuyển từ xây dựng chính sách thị trường carbon sang vận hành thực tế, những yêu cầu về minh bạch, năng lực thực thi và niềm tin thị trường đang trở thành rào cản không nhỏ…
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon quy định, đồng thời ba khuôn khổ trao đổi giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia...
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Chiều ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tổ chức tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.