
Với những thông tin bước đầu công bố, các ngân hàng thương mại dường như đang hướng về mùa báo cáo lợi nhuận nửa đầu năm 2016 khả quan hơn những năm trước. Nhưng chưa hẳn đã là những con số thực.
Dù còn nửa tháng nữa mới chốt lại quý 2 và nửa đầu 2016, nhưng trung tuần tháng 6 vừa qua Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã sớm công bố kết quả ước tính.
Có lẽ trước tác động thông tin về việc Bộ Tài chính đòi trả cổ tức bằng tiền mặt vừa qua, BIDV chủ động ra tin sớm đến như vậy để trấn an nhà đầu tư (?).
Theo đó, ước tính 6 tháng đầu năm nay, BIDV đạt lợi nhuận trước thuế khoảng 3.600 tỷ đồng; tổng tài sản lên tới khoảng 888 nghìn tỷ đồng; quy mô tín dụng và đầu tư đạt trên 836 nghìn tỷ đồng, trong đó, dư nợ tín dụng đạt gần 657 nghìn tỷ đồng…
Mới chỉ ước tính, nhưng mức độ trên chưa hẳn là đã thực sự tốt. Bởi nhìn sang một thành viên khác vừa công bố kết quả chính thức, khác biệt về hiệu quả là rất lớn.
Cụ thể, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu 2016 khá chi tiết. Dư nợ tín dụng của Vietcombank đạt 437.580 tỷ đồng, thấp hơn rất nhiều so với quy mô của BIDV, nhưng lợi nhuận trước thuế đạt tới 4.193 tỷ đồng.
Cùng với hai “ông lớn” trên, Ngân hàng Tiên Phong (TPBank) cũng nhanh chóng công bố kết quả kinh doanh cơ bản sau nửa đầu năm. Với ngân hàng quy mô còn khiêm tốn, vừa trải qua tái cơ cấu, thì con số tuyệt đối đáng để ý hơn là tốc độ tăng trưởng.
“Lợi nhuận lũy kế 6 tháng của ngân hàng đạt 205 tỷ đồng sau khi đã thực hiện trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro. Nhờ chú trọng công tác quản trị rủi ro nên chất lượng tín dụng của TPBank khá lành mạnh với nợ xấu ở mức 0,56%, còn thấp hơn so với năm trước”, TPBank cho biết.
Hiện những thành viên trên, cũng như cả hệ thống nói chung, chưa công bố báo cáo tài chính chi tiết. Nhưng, có một số điểm được chú ý khi nhìn về lợi nhuận.
Trước hết, như cả ba thành viên nói trên, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao là yếu tố đầu tiên tạo nên con số lợi nhuận khả quan.
So với mức tăng trưởng tín dụng bình quân toàn hệ thống nửa đầu năm nay (khoảng 7,2%), cả BIDV, Vietcombank và TPBank đều có tốc độ cao hơn hẳn. BIDV dự kiến có thể đạt 9%, Vietcombank đạt 10,76% (cao nhất trong 4 năm qua) và đặc biệt TPBank tăng tới 18%.
Tuy nhiên, trong khoảng một tháng tới, thị trường sẽ lần lượt đón nhận các thông tin công bố chính thức, và dự kiến sẽ có không ít thành viên tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp.
Ở điểm cần chú ý khác, mức độ “chân thực” của lợi nhuận các ngân hàng còn tùy thuộc rất lớn vào quy mô của nợ xấu, cụ thể hơn là mức độ sát thực của lượng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Đây cũng chính là điểm để thận trọng với tình huống lợi nhuận ngân hàng tính trước, trả sau.
Theo quy định và thực tế đã có, lượng lớn nợ xấu đã bán lại Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Tuy nhiên, việc trích lập dự phòng cho trái phiếu đặc biệt VAMC phát hành mua lại nợ xấu chỉ 20% mỗi năm.
Trong những năm trước, việc trích lập dự phòng cho trái phiếu VAMC có thành viên tự chủ động trích dần qua các quý, hoặc để dồn vào cuối năm mới thực hiện. Nếu để dồn lại trích vào cuối năm, lợi nhuận công bố hàng quý hay nửa đầu năm chỉ là tương đối mà chưa thực sự phản ánh hết các chi phí.
Cho nên, tình huống ngân hàng đều đặn báo lãi các quý đầu năm tốt, nhưng đột ngột hẫng cuối năm cũng không phải là quá bất ngờ.
Và năm nay còn đáng chú ý hơn nữa. Với cơ chế chính sách đã định hình, các ngân hàng được xem xét giãn thời gian trích lập dự phòng cho trái phiếu đặc biệt VAMC từ 5 năm lên 10 năm. Chi phí liên quan theo đó bớt đè nặng lên lợi nhuận, mà được tính sau, theo thời gian dài hơn.
Đó cũng là một trong những lý do chính mà Ngân hàng Nhà nước ngày càng xem xét chặt chẽ hơn con số lợi nhuận của mỗi ngân hàng thương mại, thể hiện qua chính sách xét và giao chỉ tiêu cổ tức hàng năm.
Điều được khẳng định ở chính sách này, các ngân hàng thương mại không được chia hết lợi nhuận qua cổ tức, vì một phần còn “nợ” trích lập dự phòng qua cơ chế được giãn ra nói trên. Thậm chí có những nhà băng vẫn đều đặn báo lãi, nhưng có thể trong vài ba năm, thậm chí tới 5 năm vẫn khó chia được cổ tức.
Vậy nên, các con số lợi nhuận công bố vẫn chỉ là tương đối. Sát thực hơn cả với cổ đông vẫn là tỷ lệ cổ tức mà họ thực nhận được sau đó.




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.