Theo thông tin từ UBND tỉnh Nghệ An, Sở Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Nghị quyết của HĐND tỉnh quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục, nội dung và mức hỗ trợ phát triển công nghiệp bán dẫn, công nghệ số trên địa bàn.
Việc xây dựng cơ chế này diễn ra trong bối cảnh Nghệ An đang nổi lên là một trong những địa phương có sức hút lớn đối với các dự án công nghiệp. Đến ngày 18/6/2026, toàn tỉnh có 11 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 3.007 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt khoảng 45,98%.
Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, các khu công nghiệp của tỉnh đã thu hút 18 dự án đầu tư trong nước và FDI với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm hơn 5.544 tỷ đồng. Doanh thu của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp ước đạt gần 79.763 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu khoảng 2,182 tỷ USD, chiếm hơn 74% tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh; đóng góp ngân sách ước khoảng 1.903 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy năng lực tiếp nhận đầu tư của Nghệ An đang được cải thiện rõ nét. Tuy nhiên, theo Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An, đây mới chỉ là nền tảng ban đầu. Sự phát triển của ngành linh kiện điện tử chưa đủ để hình thành một hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn hoàn chỉnh.
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn nằm ở nguồn nhân lực chất lượng cao và hạ tầng kỹ thuật. Đây cũng là những yếu tố được nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư FDI, đánh giá là điều kiện tiên quyết khi quyết định mở rộng sản xuất hoặc triển khai các dự án công nghệ cao.
Bên cạnh đó, Luật Công nghiệp công nghệ số đã giao địa phương quy định cụ thể tiêu chí, điều kiện, hồ sơ, trình tự và mức hỗ trợ đối với các nhóm đối tượng được hưởng chính sách. Tuy nhiên, Nghệ An hiện chưa có cơ chế thống nhất để triển khai, dẫn đến việc thiếu căn cứ pháp lý trong bố trí ngân sách và thực hiện các chính sách hỗ trợ.
Chính vì vậy, việc ban hành Nghị quyết được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đầy đủ, minh bạch để địa phương chuyển hướng từ thu hút đầu tư theo số lượng sang lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Điểm nổi bật của dự thảo là các chính sách được thiết kế theo đúng những "điểm nghẽn" mà doanh nghiệp đang gặp phải, thay vì hỗ trợ dàn trải.
Đối với nguồn nhân lực, dự thảo đề xuất hỗ trợ 50% chi phí tiền lương, tiền công hoặc thù lao đối với nhân lực công nghệ số chất lượng cao trong thời gian tối đa 12 tháng. Mức hỗ trợ tối đa lên tới 80 triệu đồng/người/tháng, không quá 3 người cho mỗi dự án và tổng kinh phí không vượt 2,5 tỷ đồng/dự án.
Song song với đó là chính sách hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nhân lực trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, an toàn thông tin và thiết kế vi mạch. Doanh nghiệp cũng được hỗ trợ thuê chuyên gia, giảng viên hoặc các tổ chức đào tạo trong và ngoài nước để phát triển đội ngũ nhân lực chuyên sâu.
Ở nhóm chính sách hỗ trợ sản xuất, tỉnh dự kiến hỗ trợ 30% chi phí đầu tư xây dựng nhà máy, hạ tầng kỹ thuật thiết yếu và mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm công nghệ số và chip bán dẫn. Mức hỗ trợ tối đa là 25 tỷ đồng cho mỗi dự án.
Đáng chú ý, dự thảo dành một chương riêng cho các dự án thiết kế chip bán dẫn - lĩnh vực được xem là khâu có giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi công nghiệp bán dẫn.
Theo đó, doanh nghiệp có thể được hỗ trợ kinh phí đầu tư phòng Lab, máy chủ, phần mềm thiết kế vi mạch, công cụ EDA, thư viện IP, nền tảng kiểm thử; hỗ trợ chi phí nghiên cứu, mô phỏng, tape-out thử nghiệm, kiểm thử mẫu, đăng ký sở hữu trí tuệ; đồng thời được hỗ trợ đào tạo chuyên sâu về thiết kế vi mạch, verification, physical design, hệ thống nhúng, kiểm thử và đóng gói chip. Tổng mức hỗ trợ tối đa đối với một dự án thiết kế chip lên tới 25 tỷ đồng.
Không chỉ hướng tới các doanh nghiệp lớn, dự thảo còn dành chính sách riêng cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ số với tổng mức hỗ trợ tối đa 600 triệu đồng mỗi dự án. Các khoản hỗ trợ tập trung vào nghiên cứu phát triển sản phẩm, tư vấn pháp lý, sở hữu trí tuệ, mua bản quyền phần mềm, nền tảng công nghệ và đào tạo quản trị doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng bán dẫn, Nghệ An cũng đề xuất hỗ trợ tối đa 15 tỷ đồng cho mỗi dự án để đầu tư sản xuất thử nghiệm, nhận chuyển giao công nghệ, mua bản quyền kỹ thuật, cải tiến dây chuyền, tự động hóa và số hóa hoạt động sản xuất.
Trong lĩnh vực y tế, Việt Nam đã làm chủ công nghệ điều chế các chủng loại đồng vị và dược chất phóng xạ phục vụ y học hạt nhân. Khoa học hạt nhân nước ta đã phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư. Đây là những bước tiến vượt bậc trong nỗ lực đưa năng lượng nguyên tử vào phục vụ dân sinh.
Sau nửa thế kỷ phát triển, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) không chỉ góp phần đưa công nghệ hạt nhân vào y tế, nông nghiệp, công nghiệp và môi trường mà còn đang chuẩn bị nguồn nhân lực, công nghệ và hạ tầng để đồng hành cùng Chương trình điện hạt nhân quốc gia trong giai đoạn mới.
GRDP 6 tháng đầu năm 2026 của Nghệ An đạt mức tăng cao nhất kể từ năm 2012, tạo nền tảng quan trọng để tỉnh hướng tới mục tiêu tăng trưởng từ 10,5 - 11,5% trong cả năm...
Trong khoảng 5.000 doanh nghiệp đang hoạt động tại 65 khu công nghiệp và khu chế xuất ở TP. Hồ Chí Minh, không ít đơn vị vẫn đang ở trạng thái bị động: chỉ điều chỉnh khi có quy định mới hoặc chuyển đổi khi khách hàng quốc tế yêu cầu. Tuy nhiên, trước bối cảnh hiện nay, sự chậm trễ này đang khiến doanh nghiệp đối mặt với rủi ro ngày càng lớn...
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm công nghiệp lớn nhất Việt Nam, chiếm trên 20% giá trị sản phẩm công nghiệp cả nước...
Luật Công nghiệp công nghệ số đã mở rộng phạm vi nhân lực công nghệ số chất lượng cao, không chỉ bao gồm người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) mà còn cả chuyên gia nước ngoài đáp ứng các tiêu chí do Chính phủ Việt Nam quy định. Để thu hút lực lượng này, luật đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi...
Trong bối cảnh nông nghiệp tuần hoàn và sản xuất hữu cơ trở thành xu hướng, mô hình luân canh tôm càng xanh - lúa tại Thanh Hóa đang cho thấy hiệu quả kép: nâng giá trị trên cùng diện tích đất, giảm chi phí sản xuất và mở ra hướng phát triển bền vững cho vùng chiêm trũng.