
Câu chuyện giới hạn tín dụng phi sản xuất tưởng chừng đã lặng đi, sau khi Ngân hàng Nhà nước có các điều chỉnh vào cuối năm 2011 và đầu năm 2012. Nhưng giờ nhìn lại, có thể thấy rằng, ranh giới giữa quy định pháp lý và sự tuân thủ trong hoạt động của các ngân hàng thương mại có những tình huống thật mong manh.
Ngày 1/3/2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN về việc thực hiện giải pháp tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm kiểm soát lạm phát.
Một nội dung quan trọng của Chỉ thị số 01 là: thực hiện giảm tốc độ và tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với năm 2010, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán; đến 30/6/2011, tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với tổng dư nợ tối đa là 22% và đến 31/12/2011, tỷ trọng này tối đa là 16%.
Chính sách trên ban hành lập tức tạo một chốt chặn. Tín dụng bất động sản, tín dụng tiêu dùng tại một số ngân hàng rơi vào trạng thái “đóng băng”; có hiện tượng căng thẳng rút tỷ trọng đảm bảo giới hạn ở hai mốc hẹn trên.
Nhưng rồi, “phút cuối”, khi mốc hẹn 31/12/2011 chỉ còn hơn một tháng, ngày 14/11/2011, Ngân hàng Nhà nước có Công văn số 8844/NHNN-CSTT “cởi trói” cho một số nhóm đối tượng khỏi rổ tính tỷ trọng tín dụng phi sản xuất.
Việc này từng thu hút sự chú ý của thị trường lúc đó. Và một tình huống đặt ra, khi một số nhóm được loại trừ như vậy, hẳn cũng sẽ có nhà băng bỗng dưng nhận được món quà “trên trời rơi xuống” là tỷ trọng tín dụng phi sản xuất “đẹp”, bảo đảm giới hạn 16% quy định?
Với ngân hàng thương mại, điều đó là rất quan trọng, vì sẽ tránh được án phạt nào đó từ Ngân hàng Nhà nước khi không đảm bảo được quy định, có thể là bị hạn chế nghiệp vụ hoạt động, hoặc không được mở rộng mạng lưới…
Bẵng đi một thời gian, tác động từ sự điều chỉnh trên của Ngân hàng Nhà nước đã định hình cụ thể ở số liệu về tình hình hoạt động một số ngân hàng thương mại. Tiếc rằng, cho dù hiện các nhà băng niêm yết đã cởi mở thông tin, nhiều trường hợp đến nay vẫn chưa có báo cáo tài chính và thuyết minh cụ thể để xem xét khả năng thoát hiểm như thế nào.
Còn tham khảo dữ liệu vừa công bố của một ngân hàng cổ phần, Công văn số 8844/NHNN-CSTT của Ngân hàng Nhà nước đã tạo được sự xoay chuyển đáng chú ý.
Cụ thể, nếu tính một cách trọn vẹn theo quy định tại Chỉ thị số 01, tỷ trọng tín dụng phi sản xuất của ngân hàng này quý 1/2012 lên tới 19%; tuy nhiên, Công văn số 8844 ra đời, lượng dư nợ cho vay nhu cầu vốn để sửa chữa nhà và mua nhà để ở mà nguồn trả nợ bằng tiền lương, tiền công của khách hàng vay được loại trừ, tỷ trọng tín dụng phi sản xuất được “gọt” chỉ còn 15,4%, về dưới giới hạn 16% theo quy định.
Nếu không có sự can thiệp của công văn trên, hẳn nhà băng đó đã phải rất căng thẳng ở yêu cầu đảm bảo tỷ trọng dư nợ phi sản xuất, cũng không loại trừ khả năng có thể vi phạm quy định, và đây có thể không phải là trường hợp duy nhất.
“Lật lại” câu chuyện như vậy để thấy rằng, ranh giới giữa quy định pháp lý và sự tuân thủ trong hoạt động của các ngân hàng thương mại có những tình huống thật mong manh, mà phía sau đó là khả năng ảnh hưởng đến các nghiệp vụ, đến kết quả kinh doanh của họ...
Nay, sau khi Ngân hàng Nhà nước tiếp tục “cởi trói” cho phần lớn đối tượng khỏi tín dụng phi sản xuất trong tháng 4/2012 (và được gọi là tín dụng không khuyến khích), giới hạn tỷ trọng 16% không còn quá chật chội và có ảnh hưởng lớn như trước đó nữa.
Dĩ nhiên Ngân hàng Nhà nước có những lý do, mục đích của mình khi đưa ra các điều chỉnh. Song câu chuyện trên một lần nữa tạo nên một ví dụ về những món quà “trên trời rơi xuống” do sự thay đổi của chính sách.
Liệu có công bằng không, khi có những ngân hàng đã phải co cụm, kể cả hy sinh lợi ích để rút được tỷ trọng về đảm bảo giới hạn yêu cầu, trong khi có thành viên “bỗng nhiên” được an toàn hoặc trở nên an toàn một cách dễ dàng hơn?
Còn nhớ vài năm trước, dư luận cũng đã từng chứng kiến sự nhân nhượng của chính sách, liên quan đến việc nới thời hạn đáp ứng yêu cầu vốn pháp định của các tổ chức tín dụng. Và liệu những ví dụ như thế có tiếp tục lặp lại trong tương lai?




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.