Phát triển dự án tín chỉ carbon theo Điều 6: Những lưu ý cho doanh nghiệp Việt Nam
ĐĐặng Hồng Hạnh, Nguyễn Hồng Loan, Hoàng Anh Dũng, John Cotton (*)
Chọn cỡ chữ
Việt Nam sở hữu tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính trên nhiều lĩnh vực trụ cột như năng lượng, công nghiệp, nông lâm nghiệp và chất thải. Đây là lợi thế lớn để khai thác nguồn tài chính xanh từ thị trường carbon quốc tế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris. Dù vậy, khoảng cách từ tiềm năng đến một dự án carbon có thể giao dịch thương mại vẫn rất lớn. Để tối ưu hóa nguồn thu carbon, tiếp cận công nghệ mới và đáp ứng chuẩn mực toàn cầu, doanh nghiệp phải bắt đầu với việc tuân thủ chặt chẽ yêu cầu pháp lý trong nước cũng như các tiêu chuẩn tạo tín chỉ theo Điều 6...
Việt Nam sở hữu tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính trên nhiều lĩnh vực trụ cột như năng lượng, công nghiệp, nông lâm nghiệp và chất thải. Ảnh:Vet Media
Hiện nay, thị trường carbon quốc tế theo Điều 6 đã bước sang giai
đoạn mới so với thời kỳ theo Cơ chế Phát triển sạch (CDM). Cụ thể, một kết quả
giảm phát thải không chỉ phải được đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV), mà còn
phải gắn với Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC); được theo dõi minh bạch
trên hệ thống đăng ký; được Chính phủ chấp thuận chuyển giao quốc tế và điều
chỉnh tương ứng.
Các tiêu chuẩn mới đòi hỏi cách tiếp cận thận trọng, chặt chẽ hơn
về phương pháp tính giảm phát thải và tính bổ sung, kiểm soát nguy cơ tính
trùng kết quả giảm phát thải giữa các quốc gia khi chuyển giao quốc tế, bảo đảm
dự án phù hợp với mục tiêu dài hạn của Thỏa thuận Paris.
Nghị định số 112/2026/NĐ-CP (Nghị định 112) của Chính phủ về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon đã đặt
nền móng pháp lý quan trọng cho hoạt động kết nối với thị trường carbon quốc tế
của Việt Nam. Việc quy định rõ nguyên tắc ưu tiên thực hiện các mục tiêu NDC,
bảo vệ lợi ích quốc gia và phân làm hai nhóm áp dụng các tỷ lệ chuyển giao khác
nhau cho thấy Việt Nam đang tiếp cận thị trường carbon một cách thận trọng và
có chọn lọc.
Việc ban hành Nghị định 112 cùng việc khai trương sàn giao dịch
carbon trong nước ngày 29/6/2026 là tín hiệu cho thấy Việt Nam đã chuyển từ
giai đoạn thiết kế chính sách sang triển khai thực tế. Bước chuyển này thể hiện
cam kết nhất quán của Chính phủ với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero)
vào năm 2050.
TIỀM NĂNG VÀ MỨC ĐỘ SẴN SÀNG TẠO TÍN CHỈ GIAO DỊCH
Nghị định 112 quy định hai danh mục các dự án được phép chuyển
giao quốc tế. Các loại hình dự án được chuyển giao có sự phân hóa về cơ hội
cùng các rào cản và thách thức thực hiện. Theo mức độ sẵn sàng tạo tín chỉ giao
dịch, có thể thấy có các nhóm dự án sau:
Nhóm dự án CDM chuyển đổi sang Cơ chế Điều 6.4 được đánh giá là
sẵn sàng nhất. Nhờ đã có lịch sử vận hành, hồ sơ kỹ thuật và dữ liệu giám sát,
nên nhóm này có thể tiến tới chuyển giao quốc tế sớm nhất, ngay khi xuất hiện
bên mua và được nước chủ nhà phê duyệt, với điều kiện hoàn thành đăng ký mới
với cơ quan Liên hợp quốc.
Đến nay, đã có 23 dự án CDM đăng ký chuyển đổi sang Điều 6.4,
trong đó Công ty cổ phần Tư vấn năng lượng và môi trường (VNEEC) hỗ trợ thành
công 15 dự án năng lượng tái tạo.
Bảng phân tầng nhóm dự án theo mức độ sẵn sàng tạo tín chỉ giao dịch
Ở tầng trung hạn là các nhóm hiệu quả năng lượng, giao thông xanh…
giàu tiềm năng nhưng đối mặt với rào cản về chứng minh tính bổ sung. Nhóm hiệu
quả năng lượng và chuyển đổi công nghệ mang lại lợi ích kép khi vừa giảm phát
thải vừa hạ chi phí. Tuy nhiên, chính lợi ích tài chính trực tiếp khiến việc
chứng minh tính bổ sung trở nên khó khăn và cơ hội chỉ mở ra khi doanh nghiệp
đi trước hoặc vượt chuẩn thông thường.
Vị thế của Việt
Nam trên thị trường carbon quốc tế không đo bằng số lượng dự án, mà quyết định
bởi chất lượng danh mục. Những dự án triển vọng nhất phải có nguồn thu carbon
mang lại giá trị bổ sung thực sự cho dự án đầu tư, dữ liệu đo đạc có thể kiểm
chứng và theo dõi, quyền sở hữu tín chỉ minh bạch, các đồng lợi ích cho cộng đồng
và môi trường được chứng minh.
Các nhóm quản lý chất thải, làm mát bền vững, dự án cộng đồng và
nông nghiệp cũng có thách thức như: độ ổn định dữ liệu vận hành, chứng minh
tính bổ sung, quyền sở hữu kết quả giảm phát thải, hay chi phí MRV đội lên khi
triển khai manh mún…
Với nhóm chiến lược dài hạn, các công nghệ vượt trội trong giảm
phát thải như điện gió ngoài khơi, thu hồi và lưu trữ carbon (CCS/CCUS) hay
hydrogen xanh có tính bổ sung rất cao nhờ chi phí đầu tư lớn và hiệu quả tài
chính tự thân còn thấp. Tuy nhiên, do chu kỳ chuẩn bị kéo dài và hạ tầng phức
tạp, khả năng tạo tín chỉ giao dịch trước năm 2030 là khá hạn chế.
Nhóm lâm nghiệp và giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) tạo lượng
hấp thụ lớn cùng giá trị đa dạng sinh học và sinh kế, song đòi hỏi khắt khe về
quản trị rủi ro, từ quyền sử dụng đất, tính lâu dài đến nguy cơ đảo ngược. Với
nhóm này, quy mô tạo tín chỉ là chưa đủ mà chất lượng quản trị và dữ liệu mới
là yếu tố quyết định giá trị và sự hấp dẫn của tín chỉ.
KHOẢNG CÁCH TỪ TIỀM NĂNG ĐẾN DỰ ÁN CÓ THỂ GIAO DỊCH
Dù Nghị định 112 đã hoàn thiện hành lang pháp lý, khoảng cách đến
tín chỉ giao dịch quốc tế vẫn lớn. Nút thắt cốt lõi là năng lực chuẩn bị dự án
đủ độ trưởng thành về kỹ thuật, pháp lý và tài chính.
Thực trạng các dự án CDM chuyển đổi sang Cơ chế Điều 6.4 phản ánh
rõ khoảng cách này. Trong số 175 chương trình, dự án CDM đã đăng ký của Việt
Nam, có 44 dự án đủ điều kiện chuyển đổi sang Điều 6.4, nhưng mới chỉ có 23 dự
án đã nộp hồ sơ chuyển đổi.
Số lượng dự án CDM của Việt Nam chuyển đổi sang Cơ chế Điều 6.4 trong nhóm các quốc gia đang đứng đầu về số lượng dự án chuyển đổi. Nguồn: https://unfccc.int/
Với các ý tưởng dự án mới theo Điều 6, mức độ sẵn sàng còn thấp
hơn khi phần lớn mới dừng ở ý tưởng và ước tính lượng tín chỉ tiềm năng không
dựa trên phương pháp luận.
Tín chỉ carbon không phải là “phần thưởng tự động” cho mọi khoản
đầu tư xanh, mà là một tài sản đòi hỏi quá trình chuẩn bị và quản lý chặt chẽ.
Những hạn chế hiện nay có thể quy về năm nhóm rủi ro chính.
Thứ nhất, rủi ro về tính bổ sung. Dự án dễ bị loại nếu đã có hiệu
quả tài chính tự thân cao, sử dụng công nghệ quá phổ biến hoặc là nghĩa vụ bắt
buộc. Việc đánh giá khả thi dự án tín chỉ phải thực hiện trước khi quyết định
đầu tư, nhất là khi nhiều ý tưởng còn thiếu năng lực lựa chọn phương pháp luận,
tính toán lượng giảm phát thải và định giá tài chính carbon.
Thứ hai, rủi ro về dữ liệu và hệ thống MRV. Dữ liệu vẫn là điểm
yếu của nhiều doanh nghiệp. Thiếu dữ liệu liên tục, nhất quán ngay từ đầu sẽ
khiến dự án khó chứng minh lượng giảm phát thải. Doanh nghiệp thường nhầm lẫn
giữa kiểm kê phát thải của doanh nghiệp với MRV của dự án giảm phát thải tạo
tín chỉ. Bên cạnh đó, sai sót hoặc gián đoạn dữ liệu trong quá trình vận hành
và MRV có thể làm giảm lượng tín chỉ được công nhận.
Thứ ba, rủi ro về sản lượng, vận hành và hiệu quả tài chính. Nhiều
chủ dự án kỳ vọng cao vào doanh thu tín chỉ nhưng chưa tính đủ các chi phí đăng
ký, thẩm tra, MRV định kỳ, ban hành và quản lý rủi ro trong toàn bộ vòng đời.
Kinh nghiệm từ các dự án quốc tế của Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư và Thương mại
(INTRACO) cho thấy lượng tín chỉ thực tế thường bị ảnh hưởng bởi tình trạng
thiết bị, hành vi sử dụng, nguồn nguyên liệu, công suất vận hành và tính liên
tục của dữ liệu. Do đó, doanh nghiệp không nên xây dựng phương án tài chính
theo kịch bản giá cao nhất hoặc cam kết khối lượng vượt quá năng lực thực tế.
Thứ tư, rủi ro về quyền sở hữu và chia sẻ lợi ích. Với các dự án có
nhiều bên tham gia như chủ sở hữu đất, nông hộ, nhà cung cấp công nghệ, đơn vị
vận hành hoặc nhà đầu tư, quyền sở hữu với kết quả giảm phát thải và cơ chế
chia sẻ lợi ích phải được xác định rõ ngay từ đầu. Nếu không, dự án có thể gặp
khó khăn khi huy động vốn, đăng ký tín chỉ hoặc đàm phán với bên mua…
Thứ năm, rủi ro pháp lý chuyển giao quốc tế và chiến lược carbon.
Theo Nghị định 112, tín chỉ hoặc kết quả giảm phát thải chỉ trở thành ITMOs khi
được Việt Nam chấp thuận chuyển giao quốc tế và thực hiện điều chỉnh tương ứng.
Tín chỉ theo Điều 6 từ Việt Nam đang thu hút sự quan tâm của bên mua, nhưng với xu thế ngày càng thận trọng. Chính sự thận trọng đó khiến nhiều dự án Việt Nam, dù giàu tiềm năng giảm phát thải, vẫn khó tiếp cận vốn hoặc ký được hợp đồng mua bán tín chỉ.
Tùy nhóm hoạt động, tỷ lệ được phép chuyển giao quốc tế có thể bị giới hạn ở
mức tối đa 90% hoặc 50%, phần còn lại được giữ lại để đóng góp cho việc thực
hiện NDC quốc gia. Vì vậy, doanh nghiệp phải xét lượng tối đa có thể được chuyển
giao theo loại hình dự án khi phân tích tài chính cho dự án tín chỉ.
Để thu hẹp khoảng cách này không chỉ là việc ghép bên bán với bên
mua, mà cần một hệ sinh thái tài chính và dịch vụ.
Hệ sinh thái này gồm: ngân
hàng, quỹ đầu tư khí hậu và đối tác phát triển chia sẻ rủi ro, đồng tài trợ chi
phí chuẩn bị và huy động nguồn vốn ưu đãi cho giai đoạn đầu; các đơn vị phát
triển dự án, tư vấn, môi giới kết nối chủ dự án với thị trường, chuẩn hóa hồ sơ
và đàm phán hợp đồng; sàn giao dịch trong nước góp phần tăng thanh khoản, hỗ
trợ phát hiện giá. Nhưng các cơ chế này chỉ phát huy hiệu quả khi Việt Nam hình
thành được nguồn cung ổn định từ những dự án đủ chất lượng và trưởng thành.
Hệ sinh thái tài chính và các chủ thể trung gian hỗ trợ phát triển dự án Điều 6
Dự án theo Điều 6 không phải là “lối tắt” để bán tín chỉ với giá
cao hơn, mà là một khuôn khổ mới đòi hỏi trách nhiệm lớn hơn của doanh nghiệp
về dữ liệu, vận hành, pháp lý và thực hiện cam kết thương mại, đồng thời phải
qua nhiều bước để có thể ban hành, chuyển giao tín chỉ quốc tế.
Các yêu cầu để dự án theo Điều 6 có thể chuyển giao tín chỉ quốc tế. Nguồn: tổng hợp theo Nghị định 112/2026/NĐ-CP
LỘ TRÌNH HÀNH ĐỘNG BIẾN TIỀM NĂNG PHÁT THẢI THÀNH GIAO DỊCH
ITMOS
ITMOs (Internationally Transferred Mitigation Outcomes - Các kết
quả giảm phát thải quốc tế) là hàng hóa và được giao dịch theo cung cầu thị
trường. Để biến tiềm năng giảm phát thải thành giao dịch ITMOs thành công,
doanh nghiệp nên có một lộ trình hành động.
Thứ nhất, xác định rõ mục tiêu và sàng lọc danh mục: doanh nghiệp
cần rõ ràng mục tiêu: giảm phát thải cho Net Zero nội bộ, bán tín chỉ bù trừ
trong Hệ thống giao dịch hạn ngạch (ETS) hay thương mại tín chỉ quốc tế. Bán
tín chỉ carbon không thể là giao dịch đơn lẻ, mà phải gắn liền với chiến lược
carbon tổng thể để cân bằng giữa cam kết nội bộ và cơ hội thị trường. Trên cơ
sở này, doanh nghiệp sàng lọc các dự án tối ưu nhất về quy mô, tính bổ sung,
chi phí MRV và rủi ro pháp lý.
Các chương trình bếp tiết kiệm năng lượng, thiết bị lọc nước của INTRACO triển khai tại Lào và Campuchia cho thấy một dự án carbon cộng đồng không thể được đánh giá chỉ bằng số lượng thiết bị đã phân phối. Các dự án phân tán, nhiều bên tham gia cần hệ thống tổ chức đủ mạnh để quản lý thiết bị, người sử dụng, dữ liệu, bảo trì và khảo sát ở quy mô lớn. Chính hiệu quả vận hành thực tế sẽ quyết định lượng tín chỉ cuối cùng được thẩm tra và giao cho bên mua.
Thứ hai, nghiên cứu tiền khả thi carbon: Cần chuyên gia có kinh nghiệm thực tế phát triển và
đăng ký dự án carbon để đánh giá khả năng được chấp thuận theo Điều 6. Xây dựng phương án tài chính với
nhiều kịch bản giá, đánh giá khả thi
dự án với mức giá tín
chỉ cẩn trọng. Nếu doanh nghiệp hướng tới một
thị trường hoặc một nhóm bên mua cụ thể, điều kiện tiêu chuẩn đủ của loại tín
chỉ cần được kiểm tra ngay từ giai đoạn
tiền khả thi.
Thứ ba, chuẩn hóa hệ thống quản trị và dữ liệu nội bộ: tín chỉ
carbon đòi hỏi sự phối hợp liên phòng, ban trong doanh nghiệp. Dữ liệu đo đạc
và thẩm tra phải khớp chính xác với nhật ký vận hành, hóa đơn năng lượng và báo
cáo tài chính ngay từ những ngày đầu khi dự án hoạt động cho hết vòng đời dự án
tạo tín chỉ.
Thứ tư, lựa chọn mô hình hợp tác và tính pháp lý chặt chẽ: khi hợp
tác đa bên, hợp đồng phải quy định minh bạch quyền sở hữu tín chỉ, phân chia
doanh thu và trách nhiệm khi lượng tín chỉ thực tế bị sụt giảm hoặc thủ tục chuyển
giao bị trì hoãn.
Thứ năm, cẩn trọng và tiếp cận bên mua chiến lược: doanh nghiệp
nên ưu tiên bên mua có cơ chế chia sẻ rủi ro thay vì giá chào cao. Hợp đồng cần
có biên độ an toàn, lịch giao tín chỉ thực tế và phương án xử lý rủi ro pháp lý
hay chậm ban hành.
Thứ sáu, hợp tác quốc tế không chỉ là vốn cho từng dự án. Sự chuẩn
bị của doanh nghiệp cần được hỗ trợ bởi một hệ sinh thái hợp tác kỹ thuật đủ
liên tục.
Kinh nghiệm hỗ trợ tại Việt Nam, Indonesia và Philippines của Chương
trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP) cho thấy đồng thuận chính
sách và sự tham gia của khu vực tư nhân không hình thành từ những dự án rời
rạc. Giá trị của hợp tác quốc tế không chỉ được đo bằng số vốn huy động mà qua
năng lực thể chế được củng cố, niềm tin thị trường được hình thành và khả năng
doanh nghiệp tự tin chuẩn bị, triển khai và thương mại hóa các dự án carbon
trong dài hạn.
Điều 6 không thể biến một dự án có dữ liệu yếu, công nghệ vận hành thiếu ổn định hoặc quyền sở hữu không rõ ràng thành tín chỉ chất lượng cao. Bên mua quốc tế không chỉ mua một tấn CO2 giảm được trên lý thuyết mà họ mua độ tin cậy của toàn bộ dự án, từ công nghệ, dữ liệu và vận hành đến khả năng ban hành và giao tín chỉ đúng cam kết.
Cơ hội từ thị trường carbon quốc tế đang mở ra trong khi Việt Nam
đã mở cánh cửa chính sách. Tuy nhiên, dự án có qua được cánh cửa hay không phụ
thuộc vào chất lượng chuẩn bị và khả năng thực thi.
Vì vậy, doanh nghiệp cần xem dự án tín chỉ carbon là một khoản đầu
tư dài hạn và cân nhắc ngay từ giai đoạn hình thành ý tưởng đầu tư. Tín chỉ
carbon phải được quản lý như một tài sản, việc thương mại hóa phải được coi là
một cam kết xuyên suốt vòng đời dự án, đòi hỏi tuân thủ nghiêm các yêu cầu chất
lượng, dữ liệu, vận hành và giao dịch.
Bên cạnh sự chuẩn bị từ doanh nghiệp, thị trường carbon Việt Nam
cần thúc đẩy dự án có mức độ sẵn sàng cao để có tín chỉ được phép chuyển giao
sớm, như chương trình/dự án CDM chuyển đổi sang Cơ chế Điều 6.4 hay một số dự
án song phương đã chín muồi.
Việc vận hành thử nghiệm nhóm dự án này giúp cơ quan quản lý và
doanh nghiệp kiểm nghiệm thực tế quy trình chấp thuận và thực hiện điều chỉnh
tương ứng theo Nghị định 112/2026/NĐ-CP. Đây là “phép thử” quan trọng để hoàn
thiện khung chính sách, rút kinh nghiệm vận hành và xây dựng niềm tin cho thị
trường quốc tế.
Dự án carbon theo Điều 6 của Thoả thuận Paris là các hoạt động giảm hoặc hấp thụ phát
thải khí nhà kính, như năng lượng tái tạo, trồng rừng hay giảm phát thải methane, được đo đạc và thẩm tra để tạo ra tín chỉ carbon có thể
chuyển giao quốc tế.
Điều 6.2 cho phép các quốc gia hợp tác
song phương hoặc đa phương và chuyển giao các kết quả giảm phát thải quốc tế,
gọi là ITMOs (Internationally Transferred Mitigation Outcomes). Để tránh
tính trùng, nước chủ nhà phải thực hiện điều chỉnh tương ứng- không được tính phần
giảm phát thải đã chuyển giao vào kết quả thực hiện NDC của mình.
Điều 6.4 thiết lập cơ chế tín chỉ carbon
do Liên hợp quốc giám sát, kế thừa CDM và cho phép tổ chức công, tư phát triển
các dự án giảm hoặc hấp thụ phát thải.
So với thị trường carbon tự nguyện, các dự án theo Điều 6
phải đáp ứng yêu cầu chặt chẽ hơn về hạch toán, tránh tính trùng và có chấp thuận
chuyển giao quốc tế của nước chủ nhà; đồng thời phải bảo đảm tiêu chuẩn cốt lõi của dự án tín chỉ- tính bổ sung- có nghĩa là phải chứng minh hoạt động giảm phát
thải sẽ khó xảy ra nếu không có nguồn thu từ tín chỉ carbon.
(*) Đặng Hồng Hạnh (VNEEC), Nguyễn Hồng Loan (GreenCIC), Hoàng Anh
Dũng (INTRACO) và John Cotton (ETP/UNOPS)
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Nghị định số 112/2026/NĐ-CP góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam, mở cánh cửa trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế; góp phần huy động nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế phục vụ quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải thấp. Tuy nhiên, việc trao đổi quốc tế không chỉ nhằm khai thác giá trị thương mại của tín chỉ carbon mà còn phải bảo đảm lợi ích quốc gia và ưu tiên thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam...
Trung Quốc đang rót vốn mạnh vào các dự án năng lượng xanh ở nước ngoài thông qua Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI), trong bối cảnh cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Iran thúc đẩy nhu cầu đối với năng lượng tái tạo...
Việc Ấn Độ đẩy nhanh phổ cập xăng pha 20% ethanol (E20) được kỳ vọng giúp giảm phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp và cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau khi trở thành loại nhiên liệu tiêu chuẩn trên toàn quốc, E20 đã vấp phải làn sóng phản ứng từ người tiêu dùng. Điều này cho thấy chuyển đổi xanh chỉ có thể thành công khi đi cùng lộ trình phù hợp, hạ tầng đồng bộ và sự đồng thuận của thị trường….
Nhà sản xuất xe thương mại lớn của Trung Quốc công bố tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm 2026, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế thông qua hệ sinh thái xe thương mại năng lượng mới.
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.
Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) kết hợp với mạng lưới đường sắt đô thị (metro) là chiến lược cốt lõi để giải quyết ùn tắc và tái cấu trúc không gian. Mô hình này tập...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...