Việt Nam là một trong số những quốc gia trên thế giới dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu. Dự báo trong tương lai, biến đổi khí hậu sẽ là một trong các tác nhân làm suy giảm tốc độ tăng trưởng của Việt Nam. Do đó, nếu không có giải pháp ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu có thể gây tổn thất từ 2-4,5% GDP.
Là quốc gia đang phát triển, kinh tế của Việt Nam luôn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao, nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh phát thải lượng lớn khí nhà kính trong khi ứng dụng công nghệ cao trên thực tiễn còn hạn chế. Do đó, các chuyên gia, đối tác quốc tế đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lớn về giảm phát thải khí nhà kính, tạo tín chỉ cacbon.
Theo đó, xây dựng và phát triển thị trường carbon là bước đi chiến lược nhằm đáp ứng các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu, đặc biệt là mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Việc thiết lập và vận hành thị trường tín chỉ carbon giúp Việt Nam kiểm soát lượng phát thải và mở ra cơ hội tài chính mới thông qua cơ chế trao đổi tín chỉ carbon, giúp doanh nghiệp và tổ chức có thể mua bán hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon một cách hiệu quả, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp giảm thiểu phát thải để hưởng lợi từ chính sách trao đổi tín chỉ carbon, thúc đẩy việc đầu tư vào công nghệ sạch, sử dụng năng lượng tái tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo lộ trình, thị trường carbon Việt Nam được chia thành ba giai đoạn: Trước tháng 6/2025: là giai đoạn xây dựng khung pháp lý và hạ tầng kỹ thuật; Từ tháng 6/2025– đến hết năm 2028 là giai đoạn vận hành thí điểm; Từ năm 2029 sẽ chính thức đưa thị trường vào hoạt động trên toàn quốc.
Dự kiến trong giai đoạn thí điểm, có khoảng 150 doanh nghiệp là các cơ sở phát thải lớn thuộc các lĩnh vực sản xuất sắt, thép; xi măng; nhiệt điện được đưa vào thị trường carbon. Hạn ngạch sẽ được phân bổ 100% miễn phí trong giai đoạn thí điểm thị trường carbon.
Chính phủ nhấn mạnh vận hành của thị trường carbon phải hài hòa lợi ích của doanh nghiệp, tổ chức và các bên liên quan, đồng thời góp phần vào quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.
Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu đầy tham vọng trong đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và phát thải ròng bằng 0, các biện pháp bắt buộc đơn thuần sẽ không đủ để đáp ứng. Việc thành lập thị trường carbon tự nguyện (VCM) sẽ góp phần thúc đẩy việc áp dụng các biện pháp giảm phát thải carbon trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Các nghiên cứu cho thấy trong hai thập kỷ qua, thị trường carbon tự nguyện toàn cầu đã ghi nhận mức tăng trưởng ổn định. Dự báo đến năm 2030, tổng quy mô thị trường sẽ mở rộng đáng kể, dao động từ 10 tỷ đến 40 tỷ đô la Mỹ.
Theo thống kê từ đầu những năm 2000 đến nay, Việt Nam đã duy trì việc tham gia lâu dài vào các tiêu chuẩn tín chỉ carbon. Tính đến tháng 3/2025, Việt Nam có 274 dự án được đăng ký theo Cơ chế Phát triển Sạch (CDM), 45 dự án theo Tiêu chuẩn carbon đã được xác minh (VCS) và 58 dự án theo Tiêu chuẩn Vàng (GS). Tổng cộng, các dự án này đã giúp giảm hơn 60 triệu tấn CO2e.
Mới đây, tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) và Cục Biến đổi khí hậu thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thực hiện một cuộc khảo sát để nhận diện mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trường carbon tự nguyện ở bốn ngành trọng điểm: sản xuất lúa gạo; sản xuất thực phẩm và đồ uống (F&B); chăn nuôi, và quản lý chất thải.
Phần lớn các doanh nghiệp được khảo sát nhận thức rằng các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính có thể phát triển thành dự án tín chỉ carbon để tham gia thị trường carbon và tạo ra doanh thu. Lĩnh vực có nhiều doanh nghiệp bắt buộc phải kiểm kê khí nhà kính thể hiện sự tuân thủ thực hiện kiểm kê, báo cáo và thẩm đinh phát thải khí nhà kính cao hơn.
Trong khi đó các doanh nghiệp không phải tuân thủ các nhiệm vụ này chủ yếu được thúc đẩy bởi các sáng kiến tự nguyện nhưng sự hiểu biết về thị trường carbon tự nguyện của các doanh nghiệp tham gia còn nhiều hạn chế, chưa sẵn sàng tham gia vào thị trường này.
Thị trường carbon tự nguyện không chỉ hỗ trợ Việt Nam đạt được các mục tiêu giảm phát thải mà còn nâng cao tham vọng ứng phó với biến đổi khí hậu chung của quốc gia. Thúc đẩy sự tham gia tự nguyện của khu vực tư nhân có thể hỗ trợ đáng kể cho Chính phủ trong nỗ lực đạt được các cam kết.
Điều này đòi hỏi những nỗ lực phối hợp để giải quyết các rào cản về chính sách, khuôn khổ pháp lý, thể chế kỹ thuật và tài chính. Bên cạnh đó, việc chuẩn bị từ việc nâng cao nhận thức đến năng lực cho doanh nghiệp là vô cùng cấp thiết, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để có thể tham gia vào thị trường một cách hiệu quả.
Điều quan trọng là các doanh nghiệp phải hiểu rõ sự khác biệt giữa thị trường tuân thủ và thị trường tự nguyện và được khuyến khích tham gia vào cả hai.
Hiện nay, nước sạch ở Việt Nam là loại hàng hóa rẻ nhất khi tính theo khối lượng. Trong khi đó, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt chỉ là 10% giá bán nước sạch. Phí bảo vệ môi trường trong giá nước sạch thấp khiến cho ngân sách nhà nước phải chi trả hầu như toàn bộ chi phí cho hệ thống tiêu thoát, xử lý nước thải và tình trạng ngập lụt ở nhiều đô thị rất nặng nề…
Các chính phủ tham dự COP17 tại Armenia đã nhất trí đẩy nhanh hành động bảo vệ đa dạng sinh học toàn cầu, song bài toán tài chính vẫn chưa có lời giải. Trong khi mục tiêu bảo tồn 30% diện tích đất liền và biển vào năm 2030 đứng trước nguy cơ không hoàn thành, khoảng cách giữa cam kết và nguồn lực thực hiện ngày càng lớn…
UBND Thành phố Hà Nội yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp danh mục các dự án thuộc phạm vi quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đồng thời tham mưu UBND Thành phố công bố danh sách các dự án này định kỳ vào ngày 30/6 và ngày 31/12 hằng năm...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 44-2026 phát hành ngày 02/11/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Đây là mô hình tích hợp, kết nối việc phân loại chất thải sinh hoạt tại hộ gia đình với thu gom, tái chế và vận chuyển phần chất thải không thể tái chế đến nhà máy xi măng để đồng xử lý. Nhà máy xi măng có thể tiếp nhận, sử dụng phần chất thải không thể tái chế làm nguồn nguyên liệu, nhiên liệu thay thế, qua đó giảm lượng rác phải chôn lấp và góp phần hạn chế phát thải khí nhà kính...
Từ những công trình kiến trúc cổ kính đến không gian Hoàng cung được tái hiện bằng công nghệ số, di sản Huế đang được kể lại bằng ngôn ngữ mới, đưa những câu chuyện lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ.
Mô hình điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ với các thông số cụ thể về khả năng tiết kiệm điện, công suất, chất lượng tấm pin, bộ biến tần (inverter), thương hiệu thiết bị… đang được nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất quan tâm. Đây là giải pháp giúp chủ động nguồn điện, góp phần phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường, là mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững có thể nhân rộng.