
Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố sáng 29/4, Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4/2022 ước tính tăng 2% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, so với cùng kỳ năm trước, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,3% (cao hơn tốc độ tăng 5,8% và 9,6% của cùng kỳ năm 2018 và 2019, những năm chưa có dịch Covid-19); sản xuất và phân phối điện tăng 2,8%; ngành khai khoáng tăng 2,3%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, IIP ước tính tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 tăng 9,5%).
Ngành chế biến, chế tạo đạt mức tăng trưởng cao nhất với 8,3% (cùng kỳ năm 2021 tăng 12,1%), đóng góp 6,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,6%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 2,6%, đóng góp 0,4 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,1%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
Trong 4 tháng qua, chỉ số sản xuất của một số ngành trọng điểm cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước và có mức tăng cao hơn cùng kỳ năm 2019 (năm chưa có dịch Covid-19), gồm: trang phục tăng 20,1% (cùng kỳ năm 2019 tăng 7,9%); thiết bị điện tăng 19,1% (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,2%); máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 13,2% (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,9%).
Sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 12,8% (cùng kỳ năm 2019 tăng 3,9%), da và các sản phẩm liên quan tăng 12,8% (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,3%); thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 11,1% (cùng kỳ năm 2019 giảm 3,4%).
In, sao chép bản ghi các loại tăng 10,6% (cùng kỳ năm 2019 tăng 13,1%); sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,8% (cùng kỳ năm 2019 tăng 2,4%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 9,7% (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,8%).
Ở chiều ngược lại, IIP của một số ngành sản xuất giảm là sản phẩm từ cao su và plastic giảm 12,9%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 11,5%; than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 8,3%; khai khoáng khác giảm 4%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 3,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 1,7%.
Trong 4 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất công tăng ở 61 địa phương và giảm ở 02 địa phương trên cả nước.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 4 tháng đầu năm 2022 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, gồm: Bột ngọt và linh kiện điện thoại cùng tăng 21,5%; thép thanh, thép góc tăng 15,2%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 13,5%; phân u rê tăng 13,2%; Alumin tăng 12,7%; quần áo mặc thường tăng 12,3%; ô tô tăng 12%; thủy hải sản chế biến tăng 11,3%; sữa tươi tăng 9,7%; thép cán tăng 9,6%; than sạch tăng 9,3%.
Ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước là tivi giảm 18,9%; điện thoại di động giảm 9,9%; xăng, dầu giảm 9,7%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 9,1%; thức ăn cho thủy sản giảm 8,4%; sắt, thép thô giảm 5,8%; sơn hóa học giảm 2,6%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 2,1%; dầu mỏ thô khai thác giảm 1,1%.
Số liệu báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2022 tăng 1,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,9% so với cùng thời điểm năm trước.
Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2% và giảm 3,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,1% và giảm 2,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,5% và tăng 5,3%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,3% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1,8% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,4% và tăng 4,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí không đổi và tăng 0,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải không đổi và tăng 1,8%.
Mặc dù sở hữu tiềm năng lớn cùng khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vẫn đối mặt với muôn vàn rào cản khắc nghiệt về vốn, kỹ thuật và thị trường...
Trong 8 tháng đầu năm 2026, EU, Trung Quốc và khu vực Trung Đông - châu Phi đã ban hành hoặc lấy ý kiến 249 biện pháp SPS, chiếm khoảng 1/3 tổng số thông báo SPS của các thành viên WTO. Hàng loạt quy định mới về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc, ghi nhãn và kiểm dịch thực vật đang tạo thêm áp lực cho nông sản Việt Nam trong bối cảnh xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng...
Từ quan hệ cung ứng kéo dài hơn một thập kỷ với Elmet tại Mỹ, hợp tác chế biến với GB Innovation tại Hàn Quốc đến quan hệ khách hàng với Mitsubishi Materials của Nhật Bản, Masan High-Tech Materials (UPCoM: MSR) đang kết nối năng lực chế biến tại Việt Nam với nhiều thị trường công nghiệp lớn trên thế giới.
Nhà phân phối quốc tế thiếu kênh xác minh doanh nghiệp Việt Nam, còn doanh nghiệp nội lại khó “tự gõ cửa” từng khách hàng ngoại. Nhằm tháo gỡ hai điểm nghẽn này, hệ thống Thương vụ Việt Nam tại hơn 60 thị trường trên thế giới đang đóng vai trò lớp trung gian đặc biệt. Dù không mua hay bán, nhưng là bên bảo chứng tin cậy để hai phía sẵn sàng ngồi vào bàn đàm phán…
Sự thiếu đồng bộ trong quy định pháp luật, biến động cước phí vận tải cùng những bất cập về cơ chế giá đang đặt ra thách thức lớn cho cộng đồng doanh nghiệp. Khẩn trương rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính và tạo hành lang pháp lý minh bạch là giải pháp then chốt để giải phóng nguồn lực cho ngành công thương...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Xu hướng chăm sóc sức khỏe chủ động đang ngày càng tác động đến cách du khách lựa chọn điểm đến. Đây được xem là dư địa để Việt Nam phát triển du lịch wellness, kết hợp nghỉ dưỡng, trị liệu, dinh dưỡng và trải nghiệm thiên nhiên.