Sản xuất công nghiệp tiếp tục xu hướng tích cực, chế biến, chế tạo dẫn dắt tăng trưởng

Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2025 tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 10,1%, tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp…

Trong 4 tháng đầu năm 2025, có 62 địa phương trên cả nước có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng.
Trong 4 tháng đầu năm 2025, có 62 địa phương trên cả nước có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng.

Theo số liệu báo cáo được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 6/5, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4/2025 ước tính tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 4,6%; riêng ngành khai khoáng giảm 4,2%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, IIP ước tính tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 6,3%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,1% (cùng kỳ năm 2024 tăng 6,5%), đóng góp 8,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,1% (cùng kỳ năm 2024 tăng 13,0%), đóng góp 0,5 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,2% (cùng kỳ năm 2024 tăng 6,0%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 4,5% (cùng kỳ năm 2024 giảm 4,1%), làm giảm 0,7 điểm phần trăm.

Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP 4 tháng đầu năm các năm 2021 - 2025so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm (%). Nguồn: Cục Thống kê.
Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP 4 tháng đầu năm các năm 2021 - 2025so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm (%). Nguồn: Cục Thống kê.

Theo báo cáo, trong 4 tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước, gồm: sản xuất xe có động cơ tăng 35,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 16,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,4%; sản xuất trang phục tăng 15,7%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 15,2%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 14,1%; dệt tăng 10,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,0%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,8%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,1%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 6,0%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 5,1%.

Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm là khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 10,9%; sản xuất thiết bị điện giảm 6,2%; sản xuất đồ uống giảm 0,1%.

Về tình hình sản xuất công nghiệp của các địa phương trên cả nước trong 4 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước, báo cáo cho biết có 62 địa phương tăng, riêng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 3,2%.

Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp hoặc giảm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm. 

Cụ thể, địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 4 tháng đầu năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, gồm: Phú Thọ tăng 47,4%; Bắc Kạn tăng 27,9%; Bắc Giang tăng 27,3%; Nam Định tăng 24,7%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Hòa Bình tăng 63,7%; Huế tăng 37,5%; Quảng Ngãi tăng 35,6%.

Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 4 tháng đầu năm 2025 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước là Lạng Sơn tăng 2,9%; Lào Cai tăng 2,7%; Cao Bằng giảm 4,9%. Các địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện 4 tháng đầu năm 2025 giảm so với cùng kỳ năm trước: Bà Rịa -Vũng Tàu giảm 35,6%; Bạc Liêu giảm 14,1%; Khánh Hòa giảm 3,8%; Lào Cai giảm 1,8%.

Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng 4 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng thấp hoặc giảm: Bình Thuận tăng 1,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 12,6%; Hà Nội giảm 9,2%.

Tốc độ tăng/giảm IIP 4 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%). Nguồn: Cục Thống kê.
Tốc độ tăng/giảm IIP 4 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%). Nguồn: Cục Thống kê.

Theo báo cáo của Cục Thống kê, trong bốn tháng đầu năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước, gồm: ô tô tăng 76,9%; tivi tăng 27,7%; khí hóa lỏng LPG tăng 23,2%; phân hỗn hợp NPK tăng 18,5%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 16,6%; quần áo mặc thường tăng 15,0%; giày, dép da tăng 9,8%; thép cán tăng 9,4%; thép thanh, thép góc tăng 9,3%; xi măng tăng 9,2%; thức ăn cho thủy sản tăng 8,4%.

Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 14,0%; dầu mỏ thô khai thác giảm 7,6%.

Liên quan đến số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp, báo cáo cho biết tại thời điểm 1/4/2025 tăng 0,7% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 5,1% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp Nhà nước không đổi so với tháng trước và tăng 0,5% so với cùng thời điểm năm trước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,8% và tăng 5,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,8% và tăng 3,9%.

Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,3% so với cùng thời điểm năm trước; số lao động trong ngành chế biến, chế tạo tăng 0,8% và tăng 5,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng không đổi và tăng 0,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,1% và tăng 1,2%.

Từ thỏi nhôm đầu tiên đến khát vọng tự chủ nền kinh tế

Trong bối cảnh đất nước đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhanh và bền vững, việc sản xuất thành công nhôm thỏi đầu tiên không chỉ là thành quả của một dự án công nghiệp, mà còn là sự khẳng định về năng lực tự chủ, hiện thực hóa khát vọng chế biến sâu và nâng cao giá trị tài nguyên quốc gia...

Chiến lược đưa tôm hùm thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD

Chỉ trong một thập kỷ, tỷ trọng của tôm hùm trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đã tăng từ khoảng 7% lên gần 25% trong nửa đầu năm 2026. Đà tăng trưởng này mở ra triển vọng đưa tôm hùm trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD nếu tháo gỡ được các rào cản thị trường và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn...

Ngành hồ tiêu nâng chất lượng để giữ vững vị thế xuất khẩu

Việt Nam hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Tuy nhiên, trước áp lực từ các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, ngành hàng này cần thay đổi chiến lược: chuyển từ tăng trưởng quy mô sang ưu tiên chất lượng và tính bền vững. Để giữ vững vị thế, việc xây dựng chuỗi giá trị minh bạch và thắt chặt quy trình kiểm soát chất lượng là yêu cầu cấp thiết...

Thiếu hạ tầng kỹ thuật, khó giao dịch carbon với thị trường quốc tế

Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.

Những tác động từ chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đối với Việt Nam

Các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Mức thuế 12,5% theo Điều 301 không gây tác động tiêu cực lớn đến xuất khẩu công nghệ cao, nhưng lại đặt ra bài toán khó cho ngành nông sản và dệt may. Việt Nam cần có chiến lược thích ứng để duy trì lợi thế cạnh tranh.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy