
Theo chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng đề án tái cơ cấu tiếp tục từ 2016-2020. Trong các kết quả chuyển giao, có một thử thách lớn mà giai đoạn 2011-2015 không thể xử lý.
Đó là tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (LDR). Tưởng như nó chỉ gắn với riêng mỗi ngân hàng thương mại, nhưng lại quyết định đến cả các vấn đề vĩ mô và ổn định, an toàn hệ thống.
Chưa thể thực hiện
Số liệu cập nhật mới nhất của Ngân hàng Nhà nước cho biết, LDR của khối ngân hàng thương mại Nhà nước tính đến tháng 5/2016 ở mức 95,67%.
Trong phân định để thống kê dữ liệu hoạt động ngân hàng hiện nay, khối ngân hàng thương mại Nhà nước gồm Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank, dù 3/4 thành viên nhóm này đã cổ phần hóa. Từ 2015, khối ngân hàng thương mại Nhà nước có thêm ba “ngân hàng 0 đồng” sau khi Ngân hàng Nhà nước mua lại.
Phân định trên để phân biệt với khối ngân hàng thương mại cổ phần.
Với LDR 95,67% nói trên, mục tiêu hạ được về 90% ở khối ngân hàng thương mại Nhà nước, đặt ra trong đề án tái cơ cấu hệ thống 2011-2015, đến nay vẫn chưa thể thực hiện được.
Tuy nhiên, so sánh với quá khứ và tình hình hiện tại, 95,67% là bước cải thiện mới và rõ rệt nhất trong nhiều tháng qua (theo dữ liệu cập nhật định kỳ hàng tháng). Không xa, ngay đầu năm 2016, tỷ lệ này từng ở mức 99,11%. Xa hơn, trong quá khứ đã từng vượt trên 100%, như trong năm 2011.
Như trên, LDR không đơn thuần là một chỉ báo kỹ thuật đối với riêng với mỗi ngân hàng. Nó còn ảnh hưởng, phản ánh cho tầm vĩ mô và an toàn hệ thống.
Hiểu đơn giản, LDR là mức độ cho vay của các ngân hàng so với lượng vốn huy động được. Cũng lưu ý rằng, lượng vốn huy động còn phải cất kho theo yêu cầu dự trữ bắt buộc.
LDR là một chỉ báo về rủi ro thanh khoản. Nó càng cao thì càng nóng, càng tiềm ẩn rủi ro. Bình thường, thời gian qua và hiện nay nó như đám than đang vạc lửa, nhưng nếu có những làn gió mạnh như từ thị trường vàng, chứng khoán thổi tới thì tia lửa có thể bùng lên… Theo đó, giảm được LDR là một mục tiêu được nêu rõ trong đề án tái cơ cấu.
Thực tế trên là tồn đọng của quá khứ nhiều năm trước. Đã có cải thiện khi rút về được 95,67% đến tháng 5/2016, nhưng chắc chắn sẽ rất khó để giảm được xuống 90%.
Không thể lạnh lùng
Vì sao khó rút về? Trong các nguyên do, trước hết là gắn với mục tiêu vĩ mô.
Vừa qua, sự kiện Bộ Tài chính yêu cầu BIDV và VietinBank trả cổ tức bằng tiền mặt. BIDV có báo cáo chi tiết về thực tế khi đáp ứng yêu cầu này. Trong đó, tình huống suy giảm tín dụng nói chung, dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế được lượng hóa rất cụ thể, trực tiếp như bình thông đáy.
Sự kiện trên cũng là một dẫn chứng lý giải cụ thể nhất vì sao khó giảm được LDR của khối ngân hàng thương mại Nhà nước về 90%.
Thông thường, nếu lạnh lùng theo lý thuyết, để thực hiện mục tiêu trên, Ngân hàng Nhà nước chỉ việc cắt hoặc áp rất thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của khối này. Sau vài ba năm sẽ giảm được, đạt mục tiêu.
Thế nhưng, với tỷ trọng tới trên dưới 50% nguồn vốn cho vay đối với nền kinh tế, nếu cắt hoặc giảm thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm của khối này, tăng trưởng kinh tế chắc chắn có phần hụt hơi (có thể lượng hóa rất cụ thể như BIDV vừa đưa ra trong sự kiện trên).
Năm nay, Chính phủ liên tục thể hiện quyết tâm thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã đề ra, cao hơn năm ngoái dù nửa đầu năm nay đã có dấu hiệu kém đi. Trong bối cảnh đó, giảm được LDR của khối ngân hàng thương mại Nhà nước về 90% khó càng thêm khó.
Xét ở khía cạnh khác, áp lực cân đối LDR tại mỗi ngân hàng thương mại Nhà nước cũng gắn với thực tế: họ phải gia tăng được mẫu số vốn huy động, để gia tăng trực tiếp vẫn là qua cạnh tranh lãi suất.
Điều này lý giải vì sao BIDV và Vietinbank trong một năm trở lại đây đã áp lãi suất huy động ngang ngửa với nhiều ngân hàng thương mại cổ phần, thậm chí cao hơn ở một số kỳ hạn ngắn so với Sacombank, ACB, Eximbank…
Và, cũng chính áp lực cạnh tranh lãi suất huy động, để cân đối và xoa dịu LDR, khiến mục tiêu giảm lãi suất cho vay thêm một phần trở ngại.
Trong khi đó, nhìn sang khối ngân hàng thương mại cổ phần, dữ liệu thống kê đều đặn cập nhật cho thấy LDR của họ luôn tuân thủ giới hạn, dưới 80%, như quy định tại Thông tư 36.




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.