
Nếu Ngân hàng Nhà nước lập công ty để mua số nợ có thể lên tới 100 nghìn tỷ đồng của các ngân hàng, nguồn vốn sẽ lấy từ đâu?
Ngày 31/5 vừa qua,
Ngân hàng Nhà nước đã nhóm họp với lãnh đạo 14 ngân hàng lớn nhất hệ thống
. Tại đây, nhóm 5 giải pháp cơ bản để có thể kích thích tín dụng hợp lý được đưa ra, trong đó có một giải pháp mới và quan trọng.
Cụ thể, như
VnEconomy phản ảnh ở bài viết trước
, để giải bài toán nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước dự kiến thành lập công ty mua bán nợ với số nợ mua có thể lên tới 100 nghìn tỷ đồng. Mục đích của giải pháp này nhằm lành mạnh hóa bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại cũng như của doanh nghiệp và nhờ đó, ngân hàng sẽ đẩy mạnh tín dụng vào nền kinh tế, tháo gỡ sự ngưng trệ lưu chuyển dòng vốn giữa ngân hàng và doanh nghiệp.
Hiện giải pháp đang tính toán này chưa có các thông tin cụ thể và chính thức về hướng triển khai, hoặc tính khả thi của nó. Theo đó, một số câu hỏi cơ bản được đặt ra: nguồn vốn sẽ lấy ở đâu khi quy mô mua lại có thể lên tới 100 nghìn tỷ đồng; việc định giá các khoản nợ để mua lại thực hiện như thế nào, theo chuẩn nào…?
Đó cũng là những câu hỏi mà chuyên gia Fiachra Mac Cana, Giám đốc Nghiên cứu của Công ty Chứng khoán Tp.HCM (HSC), đề cập đến trong bình luận về sự kiện trên.
Ông Fiachra Mac Cana dự tính: “Chúng tôi cho rằng Chính phủ nhiều khả năng sẽ không đưa một khoản vốn lớn như trên vào công ty mua bán nợ dưới dạng vốn chủ sở hữu; mà nhiều khả năng lượng vốn chủ sở hữu sẽ ít hơn nhiều con số 100.000 tỷ đồng và công ty mua bán nợ sẽ huy động vốn dài hạn (có thể thông qua phát hành trái phiếu kỳ hạn 5 - 10 năm) để huy động đủ số vốn 100.000 tỷ đồng”.
Nếu vậy, có hai câu hỏi khác được đặt ra: Một là, ai sẽ là người mua trái phiếu dài hạn do công ty mua bán nợ phát hành và với lãi suất là bao nhiêu? Hai là, công ty mua bán nợ sẽ dựa vào phương pháp định giá nào khi mua nợ xấu từ các ngân hàng và quy trình định giá nợ xấu sẽ được thực hiện như thế nào?
Ở câu hỏi thứ nhất, theo chuyên gia của HSC, trái phiếu do công ty mua bán nợ phát hành sẽ được phát hành cho mọi đối tượng (cả tổ chức trong nước và nước ngoài) và có lẽ Ngân hàng Nhà nước sẽ là người mua cuối cùng. Nếu trái phiếu của công ty mua bán nợ được Chính phủ bảo lãnh thì có thể các công ty bảo hiểm sẽ mua. Và khả năng lớn là chính Ngân hàng Nhà nước sẽ mua chủ yếu trái phiếu do công ty mua bán nợ phát hành.
Ở câu hỏi thứ hai, ông Fiachra Mac Cana cho rằng “hơi khó để tìm lời giải đáp”. Giả sử giá trị tài sản thế chấp của các khoản nợ đã giảm mạnh (giá bất động sản đã giảm khoảng 30 - 40% từ đỉnh, khoảng hơn 60% tài sản thế chấp các khoản vay ngân hàng hiện liên quan đến bất động sản) thì có khả năng công ty mua bán nợ sẽ mua lại nợ với giá thấp hơn đáng kể so với mệnh giá các khoản nợ. Và việc đàm phán giá mua các khoản nợ của Vinahin có thể sẽ được coi là một thử nghiệm.
“Nếu mua các khoản nợ này ở giá quá cao so với giá trị thực sự của khoản nợ thì công ty mua bán nợ sẽ chịu lỗ ngay lập tức. Còn nếu công ty mua bán nợ mua các khoản nợ với giá quá thấp thì các ngân hàng sẽ phải ghi nhận chi phí dự phòng đáng kể, theo đó làm giảm vốn chủ sở hữu của các ngân hàng bán nợ”, chuyên gia này phân tích thêm.
Và ông cũng dự tính rằng, trên thực tế, quá trình này sẽ được thực hiện làm nhiều giai đoạn và nếu có thể thực hiện trước cuối năm nay thì tăng trưởng tín dụng sẽ được nâng cao một chút. Thông qua cam kết mua những khoản nợ xấu nhất định, các ngân hàng có lẽ sẽ có thể chuyển các khoản nợ xấu đó ra khỏi nhóm 2 - 5 và đưa vào “các khoản phải thu” sau khi đã trích lập dự phòng cần thiết dựa trên giá mua bán thỏa thuận. Điều này sẽ giúp giải phóng dư nợ cho dù các ngân hàng chưa nhận được ngay toàn bộ tiền bán nợ.
Tuy nhiên, đề xuất trên mới chỉ ở giai đoạn lấy ý kiến từ các ngân hàng. Con số đề xuất xấp xỉ 4,5% tổng dư nợ trong ngành ngân hàng và do đó đây mới chỉ được coi là bước khởi đầu.
“Nhưng dù sao thì cũng đã có những tiến triển nhất định và ít nhất là một khung giải pháp xử lý vấn đề nợ xấu đã được hình thành mặc dù vẫn còn cả một quãng đường dài phía trước và còn phải mất thêm nhiều thời gian nữa để giải quyết triệt để được vấn đề này”, chuyên gia Fiachra Mac Cana bình luận.




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.