Theo dữ liệu của Bloomberg và Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt tại ngày 28/8/2026, mặt bằng định giá trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang có sự phân hóa rất lớn giữa các nhóm cổ phiếu. Đáng chú ý, 44 cổ phiếu có P/E từ 30 lần trở lên đang chiếm 29% vốn hóa toàn thị trường, trong khi nhóm có P/E từ 6–8 lần chiếm tới 23% vốn hóa.
Cụ thể, nhóm cổ phiếu có hệ số giá trên lợi nhuận mỗi cổ phần (P/E) từ 30 lần trở lên gồm 44 cổ phiếu, với P/E trung bình lên tới 78,0 lần. Dù chỉ chiếm một phần số lượng cổ phiếu trên thị trường, nhóm này lại đóng góp tới 29% vốn hóa thị trường.
Đáng chú ý hơn, 10 cổ phiếu có vốn hóa lớn nhất trong vùng định giá này chiếm tới 96% vốn hóa của cả nhóm. VIC là cổ phiếu có P/E nổi bật nhất với mức 10,3 lần trong danh sách các cổ phiếu vốn hóa lớn được thống kê tại nhóm này, bên cạnh STB, VPL, VJC, LPS, EIB, GEL, VPI, PVD và DXG.
Điều này cho thấy mặt bằng định giá cao của thị trường đang tập trung đáng kể vào một số cổ phiếu vốn hóa lớn, thay vì phân bổ đồng đều trên toàn bộ nhóm cổ phiếu.
Nhóm có P/E từ 26–30 lần gồm 10 cổ phiếu, P/E trung bình 26,9 lần và chỉ chiếm 3% vốn hóa thị trường. Toàn bộ vốn hóa của nhóm này tập trung vào 10 cổ phiếu lớn nhất.
Nhóm P/E từ 22–26 lần gồm 11 cổ phiếu, có P/E trung bình 23,2 lần và chiếm 2% vốn hóa. Tương tự, nhóm P/E từ 18–22 lần gồm 16 cổ phiếu, P/E trung bình 19,3 lần và chiếm 3% vốn hóa.
Trong khi đó, nhóm P/E từ 14–18 lần gồm 27 cổ phiếu, có P/E trung bình 15,9 lần và chiếm 9% vốn hóa thị trường. 10 cổ phiếu vốn hóa lớn nhất trong nhóm này chiếm 93% vốn hóa của cả nhóm.
Nhóm có P/E từ 12–12,85 lần gồm 16 cổ phiếu, P/E trung bình 12,5 lần, chiếm 4% vốn hóa. Tỷ trọng vốn hóa của 10 cổ phiếu lớn nhất lên tới 98%. Các cổ phiếu có P/E trong hai vùng này bao gồm nhiều mã đáng chú ý như LPB, SSI, GMD, FPT, VCB, VNM, MWG, GEE, HDB, VIB và một số cổ phiếu khác.
Một trong những điểm đáng chú ý nhất từ bảng phân phối định giá là nhóm cổ phiếu có mức P/E tương đối thấp đang chiếm tỷ trọng lớn trong vốn hóa thị trường.
Cụ thể, nhóm P/E từ 10–12 lần gồm 42 cổ phiếu, P/E trung bình 11,5 lần và chiếm 10% vốn hóa. Nhóm P/E từ 8–10 lần gồm 63 cổ phiếu, P/E trung bình 8,6 lần, chiếm 11% vốn hóa.
Đặc biệt, nhóm P/E từ 6–8 lần gồm 61 cổ phiếu, với P/E trung bình chỉ 7,1 lần, nhưng chiếm tới 23% vốn hóa thị trường. Đây là nhóm có tỷ trọng vốn hóa lớn thứ hai trong toàn bộ bảng phân phối định giá.
Như vậy, riêng ba vùng P/E từ 6–8, 8–10 và 10–12 lần đã chiếm tổng cộng 44% vốn hóa thị trường. Điều này cho thấy bên cạnh nhóm cổ phiếu được định giá cao, thị trường vẫn có một bộ phận vốn hóa lớn đang giao dịch ở mức P/E tương đối thấp.
Nhóm P/E từ 4–6 lần gồm 51 cổ phiếu, có P/E trung bình 5,2 lần nhưng chỉ chiếm 3% vốn hóa thị trường. Nhóm P/E từ 2–4 lần gồm 18 cổ phiếu, P/E trung bình 3,2 lần và gần như không đáng kể về vốn hóa, chỉ chiếm 0%.
Nhóm có P/E dưới 2 lần gồm 27 cổ phiếu, với P/E trung bình âm 10,9 lần, cũng chỉ chiếm 0% vốn hóa thị trường. Trong nhóm này, 10 cổ phiếu vốn hóa lớn nhất chiếm 78% vốn hóa.
Như vậy, cả thị trường đang có khoảng hơn 215 cổ phiếu có mức định giá P/E dưới 8 lần.
Cũng theo dữ liệu tổng hợp từ Bloomberg và Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, diễn biến của VN-Index trong năm 2026 cho thấy thị trường duy trì trạng thái biến động mạnh, với những tháng tăng giảm đan xen. Tính đến hết tháng 8/2026, chỉ số ghi nhận mức tăng lũy kế khoảng 2,7% nếu tính theo phương pháp cộng gộp hiệu suất từng tháng.
Cụ thể, trong tháng 1/2026, VN-Index tăng 2,5%, tiếp tục tăng 2,8% trong tháng 2. Tuy nhiên, đà tăng nhanh chóng đảo chiều trong tháng 3 khi chỉ số giảm tới 10,9%, trở thành một trong những tháng điều chỉnh mạnh nhất của năm.
Thị trường sau đó phục hồi mạnh trong tháng 4 với mức tăng 10,7%. Đây cũng là mức tăng theo tháng cao nhất của VN-Index trong 8 tháng đầu năm 2026. Sang tháng 5, thị trường tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm hơn, khi VN-Index tăng 0,5%.
Đà tăng không duy trì được trong tháng 6 khi VN-Index giảm nhẹ 0,2%, trước khi tiếp tục điều chỉnh mạnh hơn trong tháng 7 với mức giảm 6,7%. Bước sang tháng 8, thị trường một lần nữa phục hồi mạnh, VN-Index tăng 5,6%.
Như vậy, sau 8 tháng đầu năm, diễn biến thị trường có thể chia thành hai giai đoạn tương đối rõ. Giai đoạn đầu năm chứng kiến mức tăng trong tháng 1 và tháng 2, sau đó là cú điều chỉnh mạnh trong tháng 3. Thị trường nhanh chóng phục hồi trong tháng 4 và duy trì mức tăng nhẹ trong tháng 5. Sau nhịp điều chỉnh trong tháng 6 và tháng 7, VN-Index lại ghi nhận mức tăng đáng kể trong tháng 8.
Thị trường tiếp tục duy trì trạng thái phân hóa trong phiên sáng nay khi áp lực bán vẫn rất nhẹ. Vai trò của nhóm blue-chips nổi bật, trong đó cổ phiếu dầu khí có yếu tố hỗ trợ mạnh từ diễn biến giá dầu thế giới.
"Nếu đồng yên tiếp tục mạnh lên, quá trình giảm đòn bẩy từ từ có thể biến thành một đợt tháo chạy nhanh chóng và tự khuếch đại", một. chiến lược gia nhận định....
Với cùng lộ trình giải ngân 10% - 20% - 35% - 35%, tổng dòng vốn thụ động dự kiến đạt khoảng 4,455 tỷ USD, gần gấp đôi so với kịch bản cơ sở.
Đà tăng của thị trường quanh sự kiện nâng hạng theo FTSE là cơ hội để hiện thực hóa lợi nhuận và giảm bớt tỷ trọng các cổ phiếu có hệ số beta cao...
Các chính phủ trên thế giới đang đối mặt với áp lực tài khóa ngày càng lớn khi tiền lãi nợ công tăng cao, cạnh tranh trực tiếp với các hạng mục chi tiêu thiết yếu khác trong ngân sách...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.