
Lãnh đạo Bộ Công Thương vừa thông tin về kế hoạch công bố kết quả kiểm tra giá thành sản xuất điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Trao đổi với báo chí ngày 5/11, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng cho biết, thực hiện Quyết định 24/2017/QĐ-TTg ngày 30/06/2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quy chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân, hằng năm Bộ Công Thương vẫn tổ chức, phối hợp với các cơ quan như Bộ Tài chính, Ủy ban Kinh tế Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Bảo vệ người tiêu dùng...để thành lập các tổ công tác và kiểm tra giá thành sản xuất kinh doanh tại EVN và các đơn vị thành viên.
"Năm 2019 chúng tôi tiếp tục thực hiện việc kiểm tra này và dự kiến công khai trong tháng 11 này. Còn về thanh tra, kiểm tra giá điện, Thanh tra Chính phủ sẽ có ý kiến sau", Thứ trưởng Cao Quốc Hưng cho biết.
Trước đó, hồi đầu tháng 9 vừa qua, Bộ Công Thương đã lập đoàn công tác liên ngành kiểm tra giá thành sản xuất, kinh doanh điện để nắm rõ thực tế các chi phí sản xuất, kinh doanh điện của EVN ở ba miền.
Đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành xác định chi phí sản xuất, kinh doanh điện năm 2018 của EVN trên cơ sở số liệu quyết toán, kiểm toán và kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của EVN.
Theo Bộ Công Thương, thông thường kết quả về giá thành sản xuất kinh doanh sẽ là cơ sở để EVN tính toán việc điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân.
Hồi tháng 11/2018, Bộ Công Thương cũng đã công bố chi phí giá thành sản xuất, kinh doanh điện năm 2017 của EVN. Theo đó, tổng chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2017 là 291.278,46 tỷ đồng.
Giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2017 là 1.667,77 đồng/kWh, tăng 0,15% so với năm 2016. Doanh thu bán điện năm 2017 là 289.954,78 tỷ đồng, tương ứng giá bán điện thương phẩm bình quân 1.660,19 đồng/kWh.
Với mức tăng của giá thành sản xuất kinh doanh điện, ngày 20/3/2019 giá bán lẻ điện bình quân đã được điều chỉnh tăng thêm 8,36%. Dự kiến mức tăng này sẽ giúp doanh thu của EVN tăng thêm 21.000 tỷ đồng.




Sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng những lợi thế địa kinh tế vượt trội, Việt Nam đang nắm giữ chìa khóa vàng để bứt phá thành một cường quốc kinh tế biển. Tuy nhiên, hành trình vươn khơi của các ngành kinh tế hiện đang vấp phải những rào cản lớn về thể chế quản lý không gian biển...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...