
Phiên giao dịch ngày 8/11 chứng kiến hoạt động kéo giá rất mạnh tại HSX và bất ngờ là khối tự doanh các công ty chứng khoán lại tranh thủ bán ra.
Theo thống kê giao dịch ngày 8/11 của HSX, khối tự doanh đã bán ra rất mạnh trên sàn này với quy mô 42,97 tỷ đồng, trong khi chỉ mua vào 2,11 tỷ đồng. Đây là quy mô bán ra mạnh nhất trong một phiên trong suốt 12 tuần trở lại đây. Phiên bán kỷ lục gần nhất là mức 53,51 tỷ đồng ngày 20/8/2012.
Liên tiếp từ đầu tháng 10 trở lại đây, khối tự doanh đã duy trì mức giao dịch rất thấp và hầu như chỉ bán ra ròng. Tuy nhiên cũng có một số phiên khối tự doanh đã tranh thủ cắt lỗ mạnh khi thị trường giao dịch tốt. Cụ thể, đợt bán ròng mạnh gần nhất là ngày 17/10 với gần 37 tỷ đồng, cao đột biến so với bình quân giao dịch hàng ngày của khối tự doanh. Ngày 17/10 cũng là phiên thứ hai sau khi thị trường đã có một phiên tăng rất mạnh ngày 16/10.
Một đợt cắt lỗ mạnh cũng được thực hiện vào ngày 30/10, trước hai phiên khi xảy ra sự kiện sụt giảm ngày 2/11 với tin đồn liên quan đến STB. Mức bán ròng trong phiên 30/10 khoảng 14,3 tỷ đồng. Con số này có thể không lớn nhưng vẫn là rất cao so với mặt bằng giao dịch chỉ 1-2 tỷ đồng mỗi ngày của nhiều tuần trước đó. Phiên gần nhất là ngày 8/11 với mức bán ròng 40,86 tỷ đồng.
Cũng theo thống kê của HSX, khối tự doanh đã đổ tiền mạnh vào thị trường liên tục trong tháng 4, tháng 5 và tháng 6, và tháng 7. Trong đó đặc biệt là tháng 4, tháng 5 rót vào ròng tổng cộng trên 217 tỷ đồng. Trong tháng 6 và 7 tự doanh cũng bắt đáy khoảng 71 tỷ đồng. Hoạt động bán ra mạnh bắt đầu từ tháng 8 và kéo dài cho tới hiện tại, nhưng mức bán ròng tổng cộng 3 tháng mới khoảng 60 tỷ đồng. Trong đó riêng tháng 9, thị trường đi ngang, tự doanh lại mua vào ròng gần 18 tỷ đồng.
Báo cáo tài chính quý 3 của rất nhiều công ty chứng khoán đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể của khoản trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán. Đây là hậu quả của việc mua vào đúng thời điểm thị trường sôi động nhất nhưng cắt lỗ không kịp hoặc chuyển sang đầu tư dài hạn. Tổng hợp từ các báo cáo riêng quý 3 cho thấy tổng lợi nhuận sau thuế của các công ty chứng khoán âm khoảng 212 tỷ đồng. Đặc biệt việc trích lập dự phòng lỗ đầu tư đã khiến nhiều công ty ghi nhận lỗ lớn như KLS, VIX, SHS, ACBS.
Báo cáo cũng cho thấy khoản tiền và tương đương tiền ở những công ty lớn có được trước đó sụt giảm mạnh, trong khi giá trị khoản đầu tư tăng lên. Điều này cũng phù hợp với số liệu tự doanh đã mua vào mạnh trong những thời điểm thị trường đạt giá cao.
Hoạt động tự doanh từng có thời điểm đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các công ty chứng khoán. Tuy nhiên thị trường càng ngày càng khó khăn và biến động phức tạp nên hoạt động này hai năm trở lại đây lại là nơi tạo gánh nặng trích lập dự phòng, thậm chí là tại lỗ chính khi các công ty buộc phải cắt lỗ. Đó là lý do không ít công ty đã chấp nhận từ bỏ hoạt động tự doanh, tập trung nhiều hơn vào mảng dịch vụ và các hoạt động khác.
Ngoài khả năng hưởng lợi từ nền lãi suất cao, lượng tiền mặt dồi dào còn tạo điều kiện để doanh nghiệp nắm bắt các cơ hội tăng trưởng trong tương lai.
Giá trị phân bổ tài sản vào chứng khoán ở Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/10 giá trị phân bổ vào bất động sản.
Hiệu suất suy yếu xuất hiện ở cả ba loại hình quỹ cổ phiếu trong 6 tháng đầu năm 2026, với 37/53 quỹ mở, 16/27 quỹ ETF và 3/6 quỹ đóng ghi nhận hiệu suất âm.
Việc thị trường trải qua những giai đoạn 6 tháng hoặc 1 năm có hiệu suất thấp là điều bình thường, đặc biệt trong bối cảnh bất ổn địa chính trị và rủi ro kinh tế.
Áp lực dòng tiền buộc nhiều người phải ngậm ngùi bán tháo tài sản ở vùng giá đáy để trả nợ, tước đi cơ hội trụ vững qua các nhịp điều chỉnh ngắn hạn. Nguyên tắc bảo vệ thành quả đầu tư là phải hạn chế tối đa đòn bẩy và luôn kiên định với các mục tiêu dài hạn...
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.