
Theo quy định tại khoản 4 Điều 7 và khoản 2 Điều 12 của Nghị định 06/2022/NĐ-CP, các cơ sở thuộc danh mục phải kiểm kê, giảm phát thải sẽ được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho giai đoạn 2026-2030. Tuy nhiên, hiện nay một số cơ sở vẫn chưa cung cấp số liệu chi tiết để Chính phủ có căn cứ phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính (KNK).
Trong quy định tại khoản 2 Điều 12 của Dự thảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ quản lý lĩnh vực liên quan xây dựng, ban hành định mức phát thải khí nhà kính trên đơn vị sản phẩm của từng loại hình cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm xác định hạn ngạch để phân bổ cho các cơ sở dựa trên cường độ phát thải KNK trên đơn vị sản phẩm.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các quốc gia đã vận hành thị trường carbon, giai đoạn đầu thường phân bổ hạn ngạch dựa trên lịch sử phát thải khí nhà kính của các cơ sở và chỉ áp dụng định mức phát thải đối với các lĩnh vực khi có đầy đủ thông tin, dữ liệu liên quan đến xác định định mức. Các cơ sở phát thải có trách nhiệm nộp báo cáo kiểm kê KNK định kỳ hai năm một lần. Thực tế triển khai của những nước như Hàn Quốc cũng cho thấy, việc xác định hạn ngạch dựa trên cường độ phát thải KNK trên đơn vị sản phẩm rất khó khăn, do vậy họ đã dựa trên lịch sử phát thải của 03 năm gần nhất để xác định hạn ngạch phát thải.
Do đó, Ban soạn thảo đề xuất sửa đổi quy định về tổ chức phân bổ hạn ngạch theo hướng: các Bộ quản lý lĩnh vực có trách nhiệm tổng hợp, đề xuất danh mục cơ sở và lượng hạn ngạch được phân bổ hằng năm cho từng cơ sở, gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải KNK, tỷ lệ hạn ngạch dự trữ và đấu giá kèm theo danh mục cơ sở dự kiến được phân bổ hạn ngạch theo từng giai đoạn từ 2025 đến 2030. Căn cứ tổng hạn ngạch phát thải KNK được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Tài nguyên Môi trường chủ trì phối hợp với các Bộ liên quan phân bổ hạn ngạch cho các cơ sở trước ngày 31/10 của các năm 2027, 2029 cho từng giai đoạn tương ứng.
Riêng giai đoạn 2025-2026, Dự thảo yêu cầu 2 Bộ Công thương và Xây dựng đề xuất hạn ngạch hàng năm cho từng cơ sở nhiệt điện, sản xuất thép, xi măng và gửi về Bộ Tài nguyên Môi trường trước ngày 30/6/2025 để Bộ này tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào 31/12 cùng năm.
Do vậy, về trách nhiệm phân bổ hạn ngạch, các bộ quản lý lĩnh vực hiện được Dự thảo giao trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch giảm nhẹ phát thải KNK cấp lĩnh vực; ban hành quy định kỹ thuật về kiểm kê khí nhà kính và đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải KNK cấp cơ sở và tổ chức kiểm tra việc tuân thủ các quy định trong phạm vi lĩnh vực quản lý.
Ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục biến đổi khí hậu, cho biết Bộ Tài nguyên Môi trường đã họp với các bộ quản lý lĩnh vực về đề xuất phương án phân bổ. Theo đó, trong giai đoạn 1, các ngành được lựa chọn phân bổ sớm như nhiệt điện sắt thép xi măng thuộc chuyên ngành quản lý của Bộ Công thương, Bộ Xây dựng, Dự thảo hạn ngạch phân bổ sẽ do 2 bộ đó (Công thương và Xây dựng) đề xuất gửi Bộ Tài nguyên Môi trường tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hạn ngạch. Trên cơ sở đó, 2 bộ phân bổ cho các doanh nghiệp thuộc thẩm quyền.
Góp ý với nội dung Dự thảo tại buổi lấy ý kiến các Bộ, ngành để hoàn thiện Dự thảo sửa đổi bổ sung Nghị định 06, đại diện Bộ Công thương cho rằng Bộ Tài Nguyên Môi trường nên là đơn vị chủ trì tổ chức phân bổ hạn ngạch phát thải. Đưa ra dẫn chứng, đại diện Bộ Công thương băn khoăn: “Trong dự thảo Nghị định có yêu cầu các Bộ (Công thương, Xây dựng) đề xuất phương án phân bổ, vậy quy trình tiếp theo là gửi hay trình? Nếu như vậy tôi cho rằng cơ chế không phù hợp lắm, vì Điều 139 luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi năm 2020 giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp Bộ Tài nguyên phối hợp các bộ, ngành thành lập thị trường carbon trong nước. Bộ Tài nguyên Môi trường tổ chức phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho các đối tượng. Vậy nếu bây giờ lại giao các bộ chuyên ngành tổ chức thực hiện Nghị định của Chính phủ có phân lại được không?”.
Đại diện Bộ Công thương cũng nêu câu hỏi: "Nếu giao Bộ Công thương, Bộ Xây dựng đề xuất phương án phân bổ hạn ngạch nhưng khi gửi sang Bộ Tài nguyên Môi trường không đồng ý thì cơ chế xử lý như thế nào? Nếu sai khác thì thẩm quyền trách nhiệm của các Bộ ra sao”.
Do đó, đại diện Bộ Công thương đề xuất dự thảo nên sửa thành "Bộ Tài Nguyên Môi trường tổ chức, xây dựng, phân bổ hạn ngạch và thành lập tổ thẩm định theo cơ chế liên ngành. Hiện đã có một Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ chế phối hợp của tổ liên ngành này. Và trách nhiệm thuộc về tổ liên ngành chứ không riêng bộ nào”.
“Quan điểm của Bộ Công thương là khi xây dựng hạn ngạch để phân bổ chúng ta nên thuê đơn vị tư vấn, chúng ta chỉ thẩm định thôi vì bộ không thể tự đi tính số liệu của từng doanh nghiệp, đặc biệt là với ngành Công thương có số lượng doanh nghiệp phát thải lớn quá nhiều”, đại diện Bộ Công thương phát biểu.
Đặt ra trường hợp nếu doanh nghiệp sản xuất cả xi măng và thép thì bộ nào sẽ đứng ra thực hiện, đại diện Bộ Công thương cho rằng: “Nếu mỗi bộ chọn một phương pháp phân bổ hạn ngạch thì làm sao đáp ứng tính phổ quát? Nên tôi cho rằng phương án Bộ Tài nguyên Môi trường chủ trì tổ chức, các bộ khác tham gia phối hợp là tốt nhất.”
Tán thành quan điểm nên thuê đơn vị tư vấn độc lập để xây dựng kế hoạch phân bổ hạn ngạch phát thải, ông Nguyễn Xuân Kiên, Hội Khoa học kỹ thuật lạnh và Điều hòa không khí Việt Nam, một trong những ngành đóng góp nhiều khí thải có hại cho tầng ozon, nhận định rằng tình trạng phát thải khí nhà kính diễn ra ở tất cả các ngành, doanh nghiệp nào cũng phát thải.
“Cơ quan quản lý nhà nước không thể tự đi đo lường kết quả giảm thải của từng doanh nghiệp mà chỉ có thể tổng hợp số liệu để làm chính sách. Việc này nên để cho các tổ chức thẩm định, tư vấn độc lập làm. Và Dự thảo sửa đổi Nghị định 06 nên quy định cụ thể hơn về cách thức thành lập, cơ chế tổ chức hoạt động của các đơn vị tư vấn đánh giá độc lập", ông Kiên nói.
Thực tế là hiện trong nước chưa thấy đơn vị tư vấn nào đủ uy tín, trong khi đó, đơn vị tư vấn có vai trò rất quan trọng trong việc đo lường khí thải để thực hiện chủ trương này. "Tôi cho rằng xác định và phân bổ hạn ngạch như thế nào trước mắt rất khó do chưa có thông số, dữ liệu gì cụ thể. Đây là bài toán khó một mình Bộ Tài nguyên Môi trường không ôm nổi.”, ông Kiên nêu ý kiến.
Thông tin tại buổi lấy ý kiến các Bộ, ngành để hoàn thiện Dự thảo sửa đổi bổ sung Nghị định 06, Cục trưởng Cục biến đổi khí hậu dự báo “giai đoạn 2025 - 2026 việc phân bổ hạn ngạch sẽ có độ trễ vì ta mới tham gia cuộc chơi. Tới giai đoạn 2027 – 2028, 2029 - 2030 sẽ phân bổ hạn ngạch sớm hơn”.
Trước thông tin này, diện Bộ Công thương băn khoăn “Dự thảo đưa ra mục tiêu 2025-2030 phân bổ hạn ngạch, Ban soạn thảo cần làm rõ là đến năm 2025 đã phân bổ được hạn ngạch phát thải chưa. Thời hạn đưa ra đó có khả thi không?”.
Giải đáp một phần những ý kiến của các bộ ngành, ông Nguyễn Ngọc Vinh Thư ký Ban soạn thảo, cho hay Dự thảo đưa ra thời hạn phân bổ hạn ngạch vào 31/12/2025 cho giai đoạn 2025 – 2026. Theo quy định của Luật, cơ sở kiểm kê KNK 2 năm 1 lần từ 2023 trở đi. Trong kỳ đầu tiên cơ sở cung cấp số liệu cho các Bộ chuyên ngành để hỗ trợ xác định kết quả kiểm kê, bắt đầu từ tháng 3/2025 các cơ sở mới chính thức nộp số liệu kiểm kê khí nhà kính. Do đó Dự thảo sửa đổi cũng đang đề xuất Bộ quản lý chuyên ngành sẽ tập hợp kết quả kiểm kê của cơ sở để cùng Bộ Tài nguyên Môi trường xác định hạn ngạch và cuối 2025 mới phân bổ. Như vậy phải tới cuối năm 2025 doanh nghiệp mới có thể biết hạn ngạch phát thải của mình trong giai đoạn 2025-2026.
“Chúng tôi cũng lường được điều này sẽ gây ra khó khăn cho doanh nghiệp trong việc chủ động xác định kế hoạch giảm phát thải do thông tin hạn ngạch được phân bổ muộn. Tuy nhiên trong giai đoạn đầu cơ quan quản lý thiếu rất nhiều cơ sở dữ liệu. Do vậy, Tổ soạn thảo đang đề xuất chỉ căn cứ vào kết quả phát thải 3 năm gần nhất của cơ sở để phân bổ hạn ngạch, mục tiêu là tránh gây khó khăn cho hoạt động sản suất của doanh nghiệp ở mức tối đa có thể”, ông Vinh phân tích.
Bà Trần Kim Chi, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), thắc mắc rằng theo Dự thảo cuối năm 2025 nhà nước mới phân bổ hạn ngạch của giai đoạn 2025 - 2026, vậy trong trường hợp cơ sở chưa được phân bổ hạn ngạch nhưng đã thực hiện giảm phát thải khí nhà kính trước đó (nhiều nhà sản xuất sớm áp dụng biện pháp công nghệ tiên tiến giảm phát thải) họ có được chuyển lượng hạn ngạch có được trước thời hạn được phân bổ hay không?
Để khuyến khích doanh nghiệp sớm áp dụng công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, nhà nước, đại diện VAMA đề xuất nên tạo điều kiện cho họ được chuyển giao lượng hạn ngạch phát trong 3 năm.
Cũng góp ý về quy định hạn ngạch phân bổ dựa trên lịch sử phát thải, đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam – EVN cho biết đo kiểm của Tập đoàn trong 3 năm gần nhất cho thấy kết quả sản xuất kinh doanh giữa những năm gần nhất là không như nhau. Nếu dựa vào báo cáo kiểm kê phát thải KNK của các năm trước đó để xác định hạn ngạch cho năm sau có thể dẫn tới tình huống hạn ngạch được cấp không đủ cho giai đoạn tiêu thụ.
Bên cạnh đó, các nhà máy điện của EVN trong nhiều trường hợp phải phải đảm bảo sản xuất, cung ứng điện theo yêu cầu cấp bách của Chính phủ. Do đó EVN đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định cụ thể cho doanh nghiệp “Nếu phải cấp bách huy động sản xuất cung ứng điện theo yêu cầu của Chính phủ thì cơ sở có được phép sử dụng vượt quá hạn ngạch được cấp hay không?”.
Trong những năm qua, các cơ sở, nhà máy điện của EVN mới dừng lại ở thu thập thông tin số liệu theo yêu cầu của Bộ Công thương, chưa thực hiện kiểm kê khí nhà kính và lập kế hoạch giảm nhẹ phát thải. Vì vậy, đại diện EVN đề nghị Ban soạn thảo xem xét làm rõ quy định về thời hạn nộp số liệu kiểm kê để tránh gây áp lực cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, đại diện EVN cho rằng do việc hướng dẫn kiểm kê và kế hoạch giảm nhẹ khí nhà kính vẫn còn khá mới mẻ với đa số doanh nghiệp nên các cơ sở thuộc danh mục bắt buộc áp dụng kiểm kê phát thải khí nhà kính rất cần sự hỗ trợ, tăng cường năng lực đào tạo, hướng dẫn quy trình kiểm kê. Vì thế đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam mong nhận được sự hỗ trợ của 2 Bộ Tài Nguyên Môi trường và Công thương để thực hiện các hoạt động đào tạo đối với kiểm kê KNK với cơ sở sản xuất điện.




Thị trường tín chỉ carbon tự nguyện vốn đang chìm trong khủng hoảng niềm tin vì nạn “tẩy xanh” (greenwashing) bất ngờ nhận được “cú hích” lớn khi hàng loạt tập đoàn công nghệ, năng lượng và tài chính toàn cầu đồng loạt gia nhập các liên minh cam kết mua hàng chục triệu tấn tín chỉ chất lượng cao...
Liên minh châu Âu (EU) vừa nới lỏng quy định đối với cây trồng chỉnh sửa gen bằng công nghệ CRISPR, mở ra kỳ vọng giúp nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm sử dụng hóa chất và nâng cao năng suất. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn tranh luận về những rủi ro tiềm ẩn đối với môi trường và sức khỏe con người…
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định, cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh là yêu cầu quan trọng nhằm khơi thông nguồn lực, giảm chi phí xã hội, tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp...
Trong nhiều thập niên, năng lượng được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ an ninh nang lượng - bảo đảm nguồn cung cho sản xuất và đời sống. Nhiệm vụ trọng tâm của ngành điện là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế, trong khi các nguồn năng lượng tái tạo thường được xem là giải pháp bổ sung nhằm giảm phát thải và bảo vệ môi trường...
Áo được xem là một trong những hình mẫu thành công của châu Âu trong việc duy trì sức sống cho nông thôn và thu hút thế hệ trẻ gắn bó với nghề nông. Sự kết hợp giữa các trang trại gia đình, chính sách hỗ trợ hiệu quả, đào tạo nghề bài bản và chuỗi tiêu thụ địa phương đang góp phần tạo nên một nền nông nghiệp bền vững cùng những cộng đồng nông thôn năng động…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.