Thực tế và những dự báo này được đưa ra trong báo cáo "SME tại khu vực ASEAN: Công ty nhỏ, Cơ hội lớn cho các nhà cung cấp giải pháp công nghệ" của TDCX được thực hiện bởi Intuit Research công bố chiều 8/5/2023.
Báo cáo đã chỉ ra hiện trạng, nhu cầu và cách mà các SME tại 5 quốc gia Đông Nam Á (Singapore, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam) đang áp dụng để phát triển kinh doanh trong nền kinh tế số, cũng như mong đợi của họ từ các đơn vị cung cấp dịch vụ.
Với việc tận dụng hiệu quả các giải pháp công nghệ, nền kinh tế số của Việt Nam đang phát triển nhanh chóng, dự kiến đạt 57 tỷ USD vào năm 2025, xếp thứ hai tại Đông Nam Á, với tỷ lệ tăng trưởng hằng năm khoảng 29%. Doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm đến 97% tổng số doanh nghiệp của cả nước, đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển này.
Báo cáo cũng chỉ ra rằng 3/4 (75%) số SME tại Việt Nam mới chỉ bắt đầu quá trình số hoá, hoặc mới chỉ số hoá trên một vài khía cạnh, bộ phận của doanh nghiệp. Tỷ lệ này cao hơn một chút so với mức trung bình của ASEAN (đạt 70%).
Các SME của Việt Nam đã nhận ra sự cần thiết phải số hoá và đang nỗ lực rút ngắn khoảng cách. Nghiên cứu nhận thấy ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp này trong vòng 2 năm sắp tới là tăng cường năng lực phân tích dữ liệu và năng lực đổi mới. Để thúc đẩy chuyển đổi số, SME Việt Nam đang tìm kiếm những đối tác cung cấp giải pháp công nghệ có kỹ năng kỹ thuật (82%), kiến thức về ngành (67%) và thời gian hồi đáp nhanh chóng (45%).
Đặc biệt, 85% doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam cho biết có kế hoạch đổi mới sản phẩm và dịch vụ bằng cách tận dụng các công cụ kỹ thuật số như công cụ phân tích dữ liệu trong hai năm tới.
Bên cạnh việc cải thiện các năng lực phân tích dữ liệu và đổi mới, trong vòng 2 năm tới, các SME Việt Nam sẽ tập trung vào việc chuyển đổi mô từ hình doanh nghiệp truyền thống sang mô hình số, cho phép vận hành các hoạt động thương mại điện tử (75%) cũng như số hoá các hoạt động như bán hàng, tiếp thị hay quản lý quan hệ khách hàng (63%).
Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đang phải đương đầu với không ít thách thức, bao gồm tư vấn về ứng dụng công nghệ (79%), thiếu khả năng tiếp cận kiến thức và chuyên môn (65%), các chương trình đào tạo để bổ trợ và tăng cường kỹ năng cho nhân viên (61%), cũng như có được kết nối với các đơn vị cung cấp dịch vụ phù hợp (53%).
Trong hành trình chuyển đổi số, có hơn 84% SME ở 5 quốc gia trong khu vực ASEAN đánh giá cao việc hợp tác với một đơn vị giải pháp công nghệ bên ngoài. Hai lĩnh vực hàng đầu mà họ đang tận dụng hỗ trợ bên ngoài là tiếp thị kỹ thuật số và đào tạo nhân sự. Điều này cho thấy, các SME tại ASEAN đang ưu tiên tạo doanh thu và đảm bảo nhân viên có được những bộ kỹ năng phù hợp để thích ứng với một tương lai số.
Về phương diện vận hành, vẫn còn cơ hội lớn cho các SME tại ASEAN tiếp cận các nhà cung cấp công nghệ để nâng cao năng lực. Minh chứng là hiện nay chỉ 25% SME tại ASEAN đang sử dụng các giải pháp bên ngoài để đáp ứng nhu cầu trong lĩnh vực thanh toán và thu hộ.
Một thông tin đáng chú ý được báo cáo đưa ra đó là có tới 82% (hơn 4 trong 5) SME tại ASEAN được khảo sát cho biết sẵn sàng thay đổi nhà cung cấp, trong đó công nghệ tiên tiến hơn (71%), dịch vụ chăm sóc khách hàng nhanh hơn và hiệu quả hơn (68%) và giá dịch vụ tốt hơn (45%) là ba yếu tố hàng đầu thúc đẩy mong muốn tìm nhà cung cấp mới.
Báo cáo chỉ ra, các vấn đề liên quan đến trải nghiệm khách hàng là lý do hàng đầu khiến họ không hài lòng với nhà cung cấp công nghệ hiện tại. Cụ thể, đó là tốc độ phản hồi khách hàng (74%) và khả năng tương tác trực tiếp như một phần trải nghiệm của khách hàng (64%).
Theo các chuyên gia nghiên cứu, từ hiện trạng bức tranh, những ưu tiên và thách thức mà các SME đang phải đối mặt trong hành trình chuyển đổi số sẽ giúp các đơn vị cung cấp công cụ giải pháp chuyển đổi số nhận diện, nắm bắt và khai thác cơ hội tăng trưởng từ việc hợp tác với các doanh nghiệp SME.




Từ giai đoạn hình thành ý tưởng sản phẩm, xây dựng kiến trúc hệ thống, thiết kế kiến trúc vi mạch đến các công đoạn kỹ thuật chuyên sâu như thiết kế vật lý (physical design), thiết kế phục vụ kiểm thử (DFT),... đều đã có sự tham gia của kỹ sư Việt Nam.
Tỷ lệ sử dụng IPv6 của Việt Nam đạt khoảng 70%, đứng thứ 7 thế giới và thứ 2 ASEAN, cao gấp 1,6 lần mức trung bình thế giới, với khoảng 95 triệu thuê bao Internet băng rộng hoạt động trên IPv6...
Trong bối cảnh khan hiếm chip nhớ đẩy chi phí sản xuất lên cao, thế hệ iPhone tiếp theo của Apple cùng nhiều sản phẩm khác như iPad và MacBook có thể sẽ có giá bán cao hơn...
Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, việc Đà Nẵng ban hành nghị quyết về thực hiện thử nghiệm có kiểm soát các giải pháp công nghệ mới trên địa bàn thành phố, nhằm tạo ra một môi trường thử nghiệm và đánh giá các sản phẩm, mô hình công nghệ mới trước khi đưa vào ứng dụng rộng rãi là vô cùng cần thiết…
Suốt 35 năm đồng hành cùng dòng chảy kinh tế đất nước và các doanh nghiệp, sự tin cậy từ những dòng dữ liệu xác thực đã định hình nên vị thế vững chắc của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy. Tuy nhiên trong kỷ nguyên mà thông tin không còn khoảng cách và công nghệ đang tái định hình xã hội, dòng chảy tri thức ấy không thể là những con số đứng yên...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.