AtkinsRéalis với công nghệ CANDU: Giải pháp hạt nhân cho an ninh năng lượng và mục tiêu Net Zero

AtkinsRéalis - tập đoàn phát triển công nghệ hạt nhân CANDU của Canada - đang thúc đẩy các giải pháp điện hạt nhân thế hệ mới nhằm tăng cường an ninh năng lượng và hỗ trợ mục tiêu Net Zero. Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, Tiến sĩ Sara Supa-Amornkul đã chia sẻ về triển vọng hợp tác giữa Canada và Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân…

Tiến sĩ Sara Supa-Amornkul, Giám đốc Phát triển Kinh doanh của Candu Energy Inc. - công ty thành viên thuộc Tập đoàn AtkinsRéalis. Ảnh: VnEconomy
Tiến sĩ Sara Supa-Amornkul, Giám đốc Phát triển Kinh doanh của Candu Energy Inc. - công ty thành viên thuộc Tập đoàn AtkinsRéalis. Ảnh: VnEconomy

Trong bối cảnh nhu cầu điện năng toàn cầu tiếp tục gia tăng trong khi các quốc gia phải đồng thời giải quyết bài toán an ninh năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính, điện hạt nhân đang trở lại mạnh mẽ trong chiến lược phát triển năng lượng của nhiều nền kinh tế.

Với khả năng cung cấp nguồn điện nền ổn định, quy mô lớn và phát thải carbon gần như bằng không, điện hạt nhân ngày càng được xem là một trong những trụ cột của quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu.

Trong làn sóng phục hưng hạt nhân đó, Canada được đánh giá là một trong những quốc gia sở hữu nền công nghiệp hạt nhân dân sự phát triển hàng đầu thế giới. Nổi bật trong hệ sinh thái này là AtkinsRéalis - tập đoàn kỹ thuật, tư vấn, quản lý dự án và công nghệ hạt nhân có trụ sở tại Canada, đồng thời là đơn vị phát triển và thương mại hóa công nghệ lò phản ứng CANDU (Canada Deuterium Uranium).

Điểm khác biệt của CANDU là khả năng sử dụng uranium tự nhiên thay vì uranium làm giàu như phần lớn các công nghệ lò phản ứng hiện nay. Điều này giúp các quốc gia nâng cao tính chủ động về nguồn nhiên liệu, đa dạng hóa chuỗi cung ứng năng lượng và tăng cường an ninh năng lượng trong bối cảnh địa chính trị thế giới nhiều biến động. Công nghệ CANDU cũng cho phép tiếp nhiên liệu trực tuyến khi lò phản ứng vẫn đang vận hành, giúp duy trì hệ số công suất thuộc nhóm cao nhất thế giới. Ngoài sản xuất điện sạch, các lò phản ứng CANDU còn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất đồng vị phóng xạ phục vụ y tế, trong đó có Cobalt-60 - loại vật liệu được sử dụng rộng rãi trong điều trị ung thư và tiệt trùng thiết bị y tế trên toàn thế giới.

Nhân chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam, Tiến sĩ Sara Supa-Amornkul, Giám đốc Phát triển Kinh doanh của Candu Energy Inc. - công ty thành viên thuộc Tập đoàn AtkinsRéalis - đã có cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy.

Tại cuộc phỏng vấn được thực hiện ở Hà Nội, bà đã chia sẻ về xu hướng phát triển điện hạt nhân trên thế giới, những ưu thế cạnh tranh của công nghệ CANDU cũng như tiềm năng hợp tác giữa Canada và Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng sạch, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển ngành công nghiệp hạt nhân trong dài hạn.

https://www.youtube.com/embed/NUGeaFThY7I?

Thưa Tiến sĩ Sara, cảm ơn bà đã tham gia cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy. Trước tiên, bà có thể giới thiệu đôi nét về bản thân cũng như vai trò của AtkinsRéalis trong ngành công nghiệp hạt nhân toàn cầu?

Cảm ơn Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã dành thời gian cho buổi trao đổi hôm nay.

Tôi là Sara Supa-Amornkul, Giám đốc Phát triển Kinh doanh cấp cao của Candu Energy - công ty thành viên thuộc Tập đoàn AtkinsRéalis. Chúng tôi là một trong những doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong lĩnh vực công nghệ hạt nhân và phát triển các dự án năng lượng hạt nhân.

Mục đích chính trong chuyến thăm Việt Nam lần này của bà là gì, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn quan trọng của quá trình chuyển đổi năng lượng?

Khi làn sóng phục hưng điện hạt nhân trên toàn cầu đang ngày càng mạnh mẽ, Canada cũng như công ty chúng tôi đang tích cực tìm kiếm các cơ hội hợp tác quốc tế, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á - nơi chúng tôi nhìn thấy tiềm năng rất lớn cho sự phát triển của ngành công nghiệp hạt nhân.

Việt Nam luôn là một trong những quốc gia quan trọng nhất trong khu vực. Đó chính là lý do tôi có mặt tại đây để tìm hiểu các cơ hội hợp tác và xem xét cách thức công nghệ hạt nhân của Canada có thể đóng góp cho sự phát triển năng lượng hạt nhân của Việt Nam trong giai đoạn mới.

AtkinsRéalis đang phát triển thế hệ lò phản ứng CANDU mới nhằm đáp ứng nhu cầu an ninh năng lượng và mục tiêu Net Zero của nhiều quốc gia. Ảnh: AtkinsRéalis
AtkinsRéalis đang phát triển thế hệ lò phản ứng CANDU mới nhằm đáp ứng nhu cầu an ninh năng lượng và mục tiêu Net Zero của nhiều quốc gia. Ảnh: AtkinsRéalis

Điều gì làm nên sự khác biệt của công nghệ CANDU so với các công nghệ lò phản ứng hiện có trên thị trường quốc tế? Những ưu thế nổi bật của CANDU về an toàn, độ tin cậy, tính linh hoạt nhiên liệu và chi phí vòng đời là gì, thưa bà?

Tôi rất vui khi nhận được câu hỏi này bởi CANDU thực sự là một công nghệ rất đặc biệt. Chúng tôi là công nghệ lò phản ứng duy nhất trên thế giới sử dụng uranium tự nhiên, tức uranium chưa qua làm giàu.

Điều này giúp các quốc gia nâng cao mức độ độc lập về năng lượng bởi họ không phải phụ thuộc vào các dịch vụ làm giàu uranium khi bảo đảm nguồn cung nhiên liệu.

Một đặc điểm quan trọng khác là các lò phản ứng CANDU có thể sản xuất các đồng vị phóng xạ phục vụ y tế ngay trong quá trình vận hành. Điều đó đồng nghĩa với việc các quốc gia không chỉ đạt được an ninh năng lượng mà còn nâng cao an ninh y tế.

Trong giai đoạn đại dịch Covid-19 cũng như những biến động địa chính trị gần đây, nhiều quốc gia đã gặp khó khăn do đứt gãy chuỗi cung ứng, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các đồng vị phóng xạ quan trọng, đặc biệt là trong điều trị ung thư. Với công nghệ CANDU, các đồng vị này có thể được sản xuất ngay trong nước.

Ngoài ra, các lò phản ứng CANDU có hệ số công suất thuộc nhóm cao nhất ngành công nghiệp hạt nhân, thường vượt 90%, bởi chúng có thể tiếp nhiên liệu trực tuyến mà không cần dừng lò phản ứng. Chúng tôi là công nghệ duy nhất hiện nay có khả năng này.

Các thiết kế lò phản ứng mới nhất của chúng tôi cũng tích hợp phương pháp xây dựng mô-đun, cho phép các dự án điện hạt nhân quy mô lớn tận dụng nhiều lợi ích về hiệu quả thi công và kiểm soát chi phí tương tự như các công nghệ mô-đun hiện đại.

Ngoài việc cung cấp công nghệ lò phản ứng, AtkinsRéalis hình dung như thế nào về mối quan hệ hợp tác lâu dài với Việt Nam? Đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao tri thức có vai trò ra sao trong mô hình hợp tác của quý vị?

Tôi muốn trả lời câu hỏi này từ góc độ cá nhân. Tôi sinh ra tại Thái Lan. Tôi là một sinh viên Thái Lan sang Canada học thạc sĩ và tiến sĩ. Ngày hôm nay, tôi đi khắp thế giới để đại diện cho công nghệ hạt nhân của Canada. Hành trình của chính tôi là một minh chứng cho cách Canada hợp tác với con người từ các quốc gia khác.

Việc tôi không sinh ra tại Canada không phải là rào cản. Tôi vẫn được trao cơ hội để đóng góp và đại diện cho công nghệ Canada trên phạm vi toàn cầu. Đó chính là ý nghĩa của sự hợp tác thực sự.

Canada và AtkinsRéalis cam kết hỗ trợ Việt Nam phát triển nguồn nhân lực, xây dựng năng lực nội tại lâu dài để Việt Nam có thể tự vận hành, phát triển và duy trì ngành công nghiệp hạt nhân của mình trong nhiều thế hệ tương lai.

Các dự án điện hạt nhân đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn. Canada và AtkinsRéalis có thể hỗ trợ Việt Nam như thế nào về tài chính và triển khai dự án?

Công nghệ CANDU về bản chất thuộc sở hữu của Chính phủ Canada. AtkinsRéalis được trao quyền phát triển và xây dựng các lò phản ứng CANDU, trong khi quyền sở hữu trí tuệ vẫn thuộc về Canada.

Khi triển khai các dự án quốc tế, chúng tôi thường thành lập các liên danh với sự tham gia của nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau, bởi đây là những dự án quy mô rất lớn và đòi hỏi sự hợp tác rộng rãi.

Trong nhiều trường hợp, các cơ quan tín dụng xuất khẩu (Export Credit Agencies) của các quốc gia tham gia dự án cũng sẽ cùng tham gia, hỗ trợ về tài chính và giảm thiểu rủi ro cho dự án.

Theo bà, những bài học từ các dự án CANDU thành công tại Romania, Hàn Quốc hay Trung Quốc có thể mang lại giá trị gì cho Việt Nam?

Một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn là tài chính. Tuy nhiên, tài chính lại phụ thuộc rất nhiều vào niềm tin của các nhà đầu tư. Thông qua nhiều thập kỷ triển khai các dự án trên thế giới, công nghệ CANDU đã xây dựng được uy tín về khả năng hoàn thành dự án đúng tiến độ và trong phạm vi ngân sách dự kiến.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nhà đầu tư và tổ chức cho vay, bởi những dự án được triển khai đúng kế hoạch thường có mức độ rủi ro tài chính thấp hơn và chi phí vốn cũng thấp hơn.

Kinh nghiệm quốc tế đã giúp chúng tôi trở thành một nhà cung cấp công nghệ và phát triển dự án mạnh hơn, và những bài học đó chắc chắn có thể được áp dụng cho các dự án tương lai tại Việt Nam.

Bà muốn gửi gắm thông điệp gì tới các nhà hoạch định chính sách Việt Nam khi họ đang cân nhắc giữa nhiều lựa chọn công nghệ hạt nhân khác nhau? Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế rất mạnh giữa các nhà cung cấp công nghệ, vì sao Việt Nam nên cân nhắc công nghệ CANDU của Canada?

Một trong những mối quan ngại lớn nhất của thế giới hiện nay là sự bất ổn địa chính trị. Xung đột và căng thẳng địa chính trị có thể tác động đáng kể tới giá năng lượng cũng như an ninh năng lượng. Vì vậy, mọi quốc gia đều mong muốn có khả năng kiểm soát tốt hơn nguồn cung và chi phí điện năng của mình.

Đây chính là lợi thế đặc biệt của công nghệ CANDU. Do sử dụng uranium tự nhiên nên các lò phản ứng CANDU không phụ thuộc vào dịch vụ làm giàu uranium.

Hiện nay chỉ có một số lượng hạn chế quốc gia trên thế giới sở hữu các cơ sở làm giàu uranium. Nếu khả năng tiếp cận các dịch vụ này bị hạn chế vì lý do chính trị hoặc thương mại, những quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào nhiên liệu làm giàu có thể đối mặt với nhiều thách thức đáng kể.

Việt Nam đang từng bước phát triển điện hạt nhân và việc đa dạng hóa công nghệ là rất quan trọng.

Nếu một dự án sử dụng nhiên liệu uranium làm giàu, thì một dự án khác dựa trên công nghệ uranium tự nhiên như CANDU có thể bổ sung thêm một lớp bảo đảm về an ninh năng lượng và khả năng chống chịu trước các rủi ro bên ngoài.

Theo quan điểm của tôi, sự đa dạng hóa đó sẽ giúp tăng cường tính độc lập

Cuối cùng, bà hình dung như thế nào về tương lai hợp tác giữa Việt Nam và Canada trong lĩnh vực năng lượng sạch và công nghệ hạt nhân?

Người ta thường nói rằng một dự án điện hạt nhân giống như "một cuộc hôn nhân" - đó là cam kết lâu dài và là một cuộc chạy marathon chứ không phải cuộc chạy nước rút.

Với việc nâng cấp và gia hạn vòng đời vận hành, một lò phản ứng CANDU có thể hoạt động gần 100 năm. Chính vì vậy, việc lựa chọn một đối tác đáng tin cậy, có uy tín và dễ dàng hợp tác trong dài hạn là điều vô cùng quan trọng.

Tôi thường lấy chính câu chuyện của mình làm ví dụ. Là một người sinh ra ngoài Canada nhưng được trao cơ hội phát triển và đại diện cho công nghệ Canada trên toàn cầu, tôi tin rằng những mối quan hệ hợp tác thành công luôn được xây dựng trên sự tôn trọng lẫn nhau, cơ hội bình đẳng và niềm tin.

Đó cũng chính là kiểu quan hệ đối tác lâu dài mà Canada mong muốn xây dựng với Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng sạch và công nghệ hạt nhân.

Airbus tăng tốc phát triển máy bay thân hẹp thế hệ mới, đặt cược vào hydro để giảm phát thải

Airbus đang tăng tốc phát triển thế hệ máy bay thân hẹp mới với mục tiêu ra mắt vào năm 2030, tích hợp nhiều công nghệ giúp giảm 20-30% mức tiêu thụ nhiên liệu. Song song đó, tập đoàn hàng không châu Âu cũng đẩy mạnh phát triển động cơ hydro, chuẩn bị cho kỷ nguyên hàng không phát thải thấp và cuộc cạnh tranh công nghệ ngày càng quyết liệt trên toàn cầu…

Từ loài rau mọc hoang đến cây trồng mang doanh thu trăm triệu đồng mỗi năm

Từng bị xem là loài cỏ dại mọc ven bờ ruộng, rau má ở làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa) nay đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Sự chuyển đổi từ những ruộng hoa màu kém hiệu quả sang trồng rau má không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất mà còn góp phần gìn giữ một loài cây đã gắn bó với vùng đất cổ suốt hàng nghìn năm.

Minh bạch dữ liệu bền vững đang trở thành "tấm vé" tiếp cận vốn quốc tế

Trong các thương vụ huy động vốn, IPO hay mở rộng chuỗi cung ứng quốc tế, thông tin phát triển bền vững đang dần trở thành một phần của đối thoại tài chính. Với sự ra đời của IFRS S1 và IFRS S2, doanh nghiệp không chỉ được yêu cầu công bố nhiều thông tin hơn, mà còn phải chứng minh các rủi ro và cơ hội về phát triển bền vững có thể tác động như thế nào đến triển vọng kinh doanh và khả năng tiếp cận vốn…

Mở cơ hội hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon, hút nguồn lực xanh, giảm phát thải

Ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam sẽ tổ chức Tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”...

Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy