Trong bối cảnh các nhà sản xuất công nghiệp nặng tại Việt Nam vẫn đang nỗ lực xoay sở để đo lường lượng khí thải carbon nhằm đáp ứng yêu cầu bền vững nghiêm ngặt hơn từ các thị trường xuất khẩu chính, nay họ lại phải chịu áp lực lớn hơn từ Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu.
CBAM đã bước vào giai đoạn thực thi chính thức từ ngày 1/1/2026, yêu cầu các nhà nhập khẩu EU phải mua chứng chỉ để bù đắp cho lượng khí thải carbon tích hợp trong hàng hóa nhập khẩu từ sáu lĩnh vực phát thải cao gồm sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro.
Giá của chứng chỉ CBAM được tính toán dựa trên giá đấu giá tín chỉ phát thải thuộc Hệ thống giao dịch phát thải của EU (EU ETS). Với giá EU ETS hiện tại là khoảng 80 euro/tấn CO2, tác động tài chính tiềm tàng là rất lớn.
Trong khi ngành thép của Việt Nam chịu tác động nặng nề nhất do doanh thu hàng tỉ đô la từ xuất khẩu sang EU, ngành xi măng và phân bón lại đối mặt với những rào cản riêng vì lượng phát thải gián tiếp từ điện năng sử dụng trong quá trình sản xuất các mặt hàng này phải được khai báo, tính toán theo quy định của CBAM.
Tiến sĩ Scott McDonald, giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics tại Đại học RMIT Việt Nam phân tích, “điều này có nghĩa là các hoạt động sản xuất tiêu tốn nhiều năng lượng có thể làm tăng đáng kể chi phí carbon cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam”.
Ông bổ sung thêm rằng các phương thức sản xuất thâm dụng carbon và phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch tạo ra bất lợi cạnh tranh lớn, khi mà cường độ phát thải ở Việt Nam cao hơn đáng kể so với mức trung bình của EU.
Từ thực tế trên, các chuyên gia luật đã kêu gọi doanh nghiệp Việt Nam thiết lập hệ thống theo dõi và đo lường phát thải trong toàn bộ quy trình sản xuất. Đối với các nhà quản lý chuỗi cung ứng, cần phải xác định những điểm mù tiềm ẩn mà họ chưa theo dõi.
“Ví dụ, mỗi kilowatt giờ điện năng tiêu thụ trong quá trình sản xuất vật liệu có thể sớm được định giá bằng chứng chỉ carbon của châu Âu”, Tiến sĩ McDonald chỉ ra.
Bên cạnh đó, từ ngày 1/1/2026, việc khai báo hải quan đối với hàng hóa thuộc diện quản lý của CBAM đòi hỏi các yêu cầu về chứng từ và báo cáo mới, làm tăng thêm gánh nặng hành chính cho các thủ tục xuất khẩu vốn đã phức tạp.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn thiếu nhận thức đầy đủ về các quy định kiểm kê carbon và phát thải khí nhà kính – điều này có thể cản trở khả năng tuân thủ các yêu cầu của CBAM.
Một khảo sát năm 2023 cho thấy hơn 60% doanh nghiệp đã nghe nói về CBAM, nhưng hầu hết đều chưa nắm rõ chi tiết. Hơn nữa, 36% không tin rằng quy định này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và chỉ có 4% đã xây dựng kế hoạch chuẩn bị.
Tiến sĩ McDonald cho rằng các doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm tới các chi phí tiềm tàng do thiếu chứng từ. "Khi doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam không thể cung cấp dữ liệu phát thải đã được xác minh hoặc khi không có dữ liệu đáng tin cậy cụ thể cho từng quốc gia, giá trị mặc định của lượng phát thải tích hợp trong hàng hóa sẽ được tính dựa trên cường độ phát thải trung bình của mười nhà xuất khẩu có mức phát thải cao nhất, được điều chỉnh theo các yếu tố khu vực," ông cho biết. “Điều này có thể làm gia tăng chi phí đáng kể”.
Trước thời hạn nộp tờ khai CBAM đợt đầu tiên vào ngày 30/9/2027, Tiến sĩ McDonald đề xuất doanh nghiệp Việt Nam trong các ngành bị ảnh hưởng nên hành động ngay lập tức.
Đầu tiên, doanh nghiệp nên triển khai các hệ thống đo lường lượng khí thải carbon, bao gồm cả khí thải trực tiếp và gián tiếp từ việc sử dụng điện trong sản xuất.
Thứ hai, doanh nghiệp nên thuê các đơn vị thẩm định được chứng nhận để xác thực dữ liệu phát thải thực tế, vì các công ty dựa vào giá trị mặc định của EU sẽ phải chịu chi phí chứng nhận cao hơn đáng kể.
“Các doanh nghiệp hành động quyết đoán có thể biến việc tuân thủ CBAM từ gánh nặng chi phí thành lợi thế cạnh tranh thông qua các hoạt động sản xuất bền vững".
Thứ ba, doanh nghiệp nên tận dụng các khuôn khổ hiện hành của Việt Nam, bao gồm hướng dẫn của Thông tư 38/2023/TT-BCT, để đo lường và báo cáo lượng phát thải khí nhà kính.
Thứ tư, các đơn vị này cũng nên liên hệ với các hiệp hội ngành nghề như Hiệp hội Thép Việt Nam để được đào tạo kỹ thuật và tham gia các hội thảo.
Cuối cùng, doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ việc tìm hiểu các lựa chọn tài chính xanh và công nghệ tiết kiệm năng lượng để giảm phát thải ngay tại nguồn.
“Các doanh nghiệp hành động quyết đoán có thể biến việc tuân thủ CBAM từ gánh nặng chi phí thành lợi thế cạnh tranh thông qua các hoạt động sản xuất bền vững," Tiến sĩ McDonald nhấn mạnh.
Quy tắc thực hiện Cơ chế tín chỉ chung (JCM) quy định cụ thể quy trình, thủ tục triển khai các dự án JCM, bao gồm xây dựng và phê duyệt ý tưởng dự án; xem xét, phê duyệt đăng ký dự án; cấp và phân bổ tín chỉ carbon giữa các bên tham gia...
Dự án sẽ sử dụng công nghệ Bloom Energy, dự kiến bắt đầu xây dựng vào năm 2026 và dự kiến vận hành toàn bộ vào cuối năm 2028...
Thỏa thuận giữa Đức và Pháp hướng tới bảo vệ ngành công nghiệp ô tô châu Âu trước sức ép cạnh tranh từ Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy đầu tư, nghiên cứu và sản xuất xe điện (EV). Tuy nhiên, đề xuất nới lỏng mục tiêu giảm phát thải từ năm 2035 cũng đặt ra bài toán cân bằng giữa sức cạnh tranh công nghiệp và tham vọng khí hậu của khu vực…
Quan sát diễn biến mạnh lên, El Nino đã có những tác động đến thời tiết Việt Nam với nền nhiệt cao hơn so trung bình nhiều năm. Đáng chú ý trong nửa đầu tháng 10/2026, đã ghi nhận 59 trạm khí tượng có nhiệt độ cao nhất ngày đạt và vượt giá trị lịch sử cùng thời kỳ...
Tiêu dùng bền vững không dừng lại ở lời kêu gọi mang tính đạo đức hay ý thức bảo vệ môi trường đơn thuần, mà đang trở thành động lực cốt lõi định hình lại mô hình tăng trưởng kinh tế. Sự chuyển dịch chiến lược này đòi hỏi sự kết nối chặt chẽ từ thể chế chính sách của Nhà nước, trách nhiệm thực chất từ cộng đồng doanh nghiệp đến hành động cụ thể của từng người dân...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.