
Tại “Hội nghị khoa học toàn quốc về dệt may và da giày lần thứ 3” do Câu lạc bộ Khoa học Dệt may và Da giày Việt Nam tổ chức ngày 20/10, PGS.TS. Phan Thanh Thảo, Viện trưởng Viện Dệt May, Da giầy và Thời trang cho rằng năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, ngành dệt may, da giày đã vượt lên khó khăn, duy trì đà tăng trưởng tốt với kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 40,4 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 14,8% và kim ngạch xuất khẩu da giầy đạt 20,7 tỷ USD, tăng 4,6% so với 2020.
Đặc biệt, dù là ngành dệt may có kim ngạch xuất khẩu chỉ đứng thứ 4 trong các ngành, nhưng thặng dư thương mại dệt may luôn đứng vị trí thứ nhất. Đơn cử, ngay năm 2021, con số thặng dư đạt khoảng 20 tỷ USD. Tỷ lệ nội địa hóa đã tăng lên 57% trong 8 tháng năm 2022.
Ông Cao Hữu Hiếu, Tổng Giám đốc Tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex) nhận định, để có những thành quả khả quan trong một giai đoạn diễn biến phức tạp như thời gian qua, bên cạnh việc làm tốt những hoạt động như quản trị sản xuất, công tác thị trường,… chính việc áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ, triển khai sáng kiến đã giúp doanh nghiệp duy trì sản xuất, tăng năng suất, chất lượng, vượt khó thành công.
Có thể kể đến những công nghệ như: sử dụng máy móc thiết bị tự động, số hóa từng công đoạn sản xuất, tăng cường sử dụng các phần mềm để giao dịch với khách hàng, thiết kế sản phẩm, chuyển giao mẫu cho khách hàng theo hình thức trực tuyến,…
Mặc dù vậy, bức tranh trình độ công nghệ và tốc độ đổi mới công nghệ của ngành dệt may Việt Nam được các ý kiến đánh giá vẫn chưa sáng.
TS.Hoàng Xuân Hiệp, Hiệu trưởng Trường Đại học công nghiệp dệt may Hà Nội dẫn số liệu phân tích của Bộ Khoa học Công nghệ cho thấy, việc ứng dụng công nghệ cảm biến, công nghệ sử dụng các thiết bị di động trong điều hành quản trị đang được dùng tương đối phổ biến trong ngành dệt may, nhưng cũng chỉ ở mức 3,25 trên thang đo 5, công nghệ robot cũng chỉ ở mức 2,6.
Tốc độ đổi mới công nghệ trung bình giai đoạn 2016-2020 là 12,47%, nhưng chỉ số này không đạt chỉ tiêu của Bộ Khoa học và Công nghệ đặt ra là 15-20%. “Đây chính là bài toán đòi hỏi ngành cần tập trung giải quyết”, ông Hiệp nêu vấn đề.
Một con số nữa cũng đáng quan tâm, đó là về mức độ hiện đại của thiết bị, thì ngành sợi có mức độ hiện đại cao nhất nhưng cũng chỉ 3,01/thang đo 5. Còn ngành dệt ở mức rất thấp, chỉ là 2 – dưới trung bình.
Về tốc độ đổi mới: tính sẵn sàng cho những công nghệ mới ở ngành sợi cao nhất là 3,02; ngành nhuộm thấp nhất là 2,3, ngành may 2,85.
Một lần nữa ông Hiệp nhấn mạnh: “Nếu chúng ta không tập trung vào khoa học công nghệ thì sẽ không thúc đẩy được sức cạnh tranh của ngành dệt may”.
Những hạn chế trên theo ông Hiệp là do các yếu tố về chính sách cản trở sự phát triển công nghệ phục vụ cho ngành dệt may tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Doanh nghiệp dệt may khó tiếp cận dữ liệu về nguồn cung công nghệ trong nước và quốc tế do Việt Nam chưa hình thành và phát triển tổ chức trung gian riêng của thị trường khoa học công nghệ cho ngành dệt may. Dẫn tới bất cập lớn là doanh nghiệp muốn tiếp cận công nghệ mới cũng không biết đến đâu tìm, hay có sản phẩm cũng không biết quảng bá, bán ở đâu.
Ngoài ra, chúng ta chưa tổ chức được hệ thống cơ sở dữ liệu về phía cung và cầu khoa học công nghệ cho ngành. Việc xúc tiến thị trường khoa học và công nghệ của ngành cũng chưa được triển khai đáng kể tại Việt Nam do chưa có nhiều hoạt động xúc tiến thương mại như hội chợ, triển lãm về kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này. Cũng chưa có nhiều dự án, chương trình hợp tác, chia sẻ chuyên gia, kết nối chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp với đối tác công nghệ trong và ngoài nước.
Hơn nữa, việc kết nối giữa doanh nghiệp dệt may với các trung tâm nghiên cứu khoa học, Viện nghiên cứu còn rất hạn chế. Nguyên nhân do thiếu chuyên gia kết nối, chính sách của nhà nước chưa khuyến khích các viện nghiên cứu, trường, doanh nghiệp làm việc này…
Bên cạnh đó, các chính sách nhà nước liên quan đến việc thương mại hoá các sản phẩm khoa học công nghệ là tài sản công còn nhiều vướng mắc. Cụ thể, rất khó để định giá tài sản công trước khi thương mại hoá theo quy định. Hay luật yêu cầu hoàn trả phần đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu sẽ gây rủi ro cao với doanh nghiệp.
Các chính sách ưu đãi thuế, vốn vay, hạ tầng kỹ thuật cho các dự án công nghệ cao hầu như chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam yếu về vốn, công nghệ. Nhà nước lại chưa có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may trong việc giảm thuế, ưu đãi lãi vay khi đầu tư công nghệ hiện đại…
Do đó, để thúc đẩy ứng dụng công nghệ hiện đại vào ngành dệt may, nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành trong chuỗi cung ứng, ông Hiệp kiến nghị, cần thành lập các khu công nghiệp dệt may lớn với diện tích từ 500ha trở lên, đồng bộ về công nghệ sản xuất cũng như xử lý môi trường hiện đại.
Chính phủ cần thiết kế các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, lãi vay… cho các dự án đầu tư công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực dệt may.
Đồng thời nghiên cứu thành lập tổ chức trung gian của thị trường khoa học công nghệ cho ngành dệt may. Hỗ trợ doanh nghiệp dệt may thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo ở 3 miền Bắc, Trung, Nam và kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các trung tâm.
Đặc biệt, vấn đề dự báo, đánh giá được nhu cầu và khả năng cung ứng công nghệ trong ngành dệt may trong giai đoạn 2022 -2030 ông Hiệp cho rằng rất quan trọng. Cùng với đó, cần thiết lập mạng lưới chuyên gia tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin, đầu tư, chuyển giao công nghệ. Mạng lưới này gồm các chuyên gia giỏi đến từ các Viện nghiên cứu, trường đại học, kỹ sư giàu kinh nghiệm…




Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam, đồng thời cũng đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Đây vừa là thách thức, vừa là động lực để ngành nông nghiệp Việt Nam chuyển đổi từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị gia tăng...
Hơn 50 lãnh đạo, chuyên gia và nhà hoạch định chính sách từ Liên hợp quốc cùng các quốc gia đối tác sẽ tham dự Hội thảo các bên liên quan Chương trình Đối tác Ba bên (TPP) năm 2026 tại Hà Nội, nhằm thúc đẩy hợp tác đào tạo, nâng cao năng lực và ứng dụng công nghệ trong hoạt động gìn giữ hòa bình...
Trước những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế, đặc biệt là EUDR, việc xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng đang trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Đây không chỉ là nền tảng phục vụ quản lý, điều hành ngành nông nghiệp và chuyển đổi số, mà còn là “hộ chiếu” dữ liệu giúp doanh nghiệp truy xuất nguồn gốc, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu...
Chương trình OCOP giai đoạn 2026 - 2030 được thành phố Huế xác định là giải pháp quan trọng nhằm cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát huy lợi thế sản phẩm bản địa, làng nghề truyền thống và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững...
Quyết định rà soát cuối kỳ biện pháp chống bán phá giá vật liệu hàn từ Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc nhằm đánh giá nguy cơ tái diễn hành vi bán phá giá và thiệt hại cho sản xuất nội địa nếu chấm dứt biện pháp này…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Cuối tháng 6 này, sàn giao dịch tín chỉ carbon dự kiến sẽ chính thức được đưa vào vận hành. Hiện các đơn vị liên quan đang khẩn trương hoàn thiện các hạng mục bảo đảm hoạt động đăng ký, lưu ký, giao dịch và thanh toán hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được thực hiện thông suốt, minh bạch và hiệu quả.