Ngày 24/6/2026, tại TP.Hồ Chí Minh, Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc tại TP.Hồ Chí Minh và Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam tổ chức Diễn đàn Kết nối thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ I.
Sự kiện có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, tổ chức ngoại giao, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và các đơn vị cung cấp dịch vụ của hai nước.
Phát biểu tại diễn đàn, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết những năm gần đây, rau quả là một trong những ngành hàng tăng trưởng nhanh nhất của nông nghiệp Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm.
Lợi thế lớn của nông sản Việt Nam là nguồn cung dồi dào, vị trí địa lý gần Trung Quốc và khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng của tầng lớp trung lưu Trung Quốc, nhu cầu tiêu dùng cũng thay đổi mạnh theo hướng ưu tiên các sản phẩm chất lượng cao, an toàn thực phẩm và có nguồn gốc rõ ràng.
"Cạnh tranh hiện nay không còn chỉ là giá bán hay sản lượng mà là khả năng đáp ứng đồng thời các tiêu chuẩn về vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm dịch thực vật, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm. Điều này buộc doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi mô hình sản xuất và kinh doanh theo hướng chuyên nghiệp hơn", ông Bình nhấn mạnh.
Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), ngành rau quả Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực trong công tác mở cửa thị trường, đặc biệt là với Trung Quốc. Hai nước đã ký nhiều nghị định thư cho các sản phẩm như sầu riêng, măng cụt, mít, chuối, dừa, chanh leo, khoai lang, thạch đen và sầu riêng đông lạnh. Bên cạnh đó, hai bên đang tiếp tục đàm phán để hoàn thiện điều kiện xuất khẩu đối với nhiều loại trái cây khác như nhãn, vải, chôm chôm, xoài, thanh long và nhóm cây có múi.
Hiện nay, sầu riêng là ngành hàng tăng trưởng nổi bật nhất. Trong giai đoạn 2021-2025, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 3 triệu tấn sầu riêng tươi và gần 190.000 tấn sầu riêng đông lạnh. Hiện có 28 quốc gia nhập khẩu sầu riêng tươi và hơn 20 quốc gia nhập khẩu sầu riêng đông lạnh của Việt Nam, trong đó Trung Quốc chiếm trên 95% khối lượng xuất khẩu. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã xuất khẩu hơn 3,2 triệu tấn mít, trong đó khoảng 99% sản lượng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Tuy nhiên, ông Mạnh lưu ý các thị trường nhập khẩu ngày càng đưa ra yêu cầu khắt khe hơn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, bảo vệ môi trường và giảm phát thải carbon.
Đối với thị trường Trung Quốc, định hướng trong thời gian tới không chỉ dừng ở xuất khẩu sản phẩm tươi mà cần đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, hoàn thiện hệ thống logistics và tăng cường truy xuất nguồn gốc.
Chia sẻ tại diễn đàn, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ cho biết hợp tác nông nghiệp giữa hai nước đang bước sang giai đoạn phát triển sâu rộng hơn, chuyển từ trao đổi thương mại đơn thuần sang xây dựng chuỗi cung ứng toàn diện. Trung Quốc hiện là thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Trong quý 1/2026, xuất khẩu nông sản, thực phẩm của Việt Nam sang Trung Quốc tăng 37,4%, cao gấp hơn 6 lần tốc độ tăng trưởng chung.
Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đã vượt 290 tỷ USD. Riêng lĩnh vực rau quả, Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp lớn thứ hai cho thị trường Trung Quốc với 22,55% thị phần. Xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc đạt 5,5 tỷ USD, chiếm 64% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Trong đó, sầu riêng là mặt hàng nổi bật nhất với sản lượng xuất khẩu đạt 941.000 tấn.
Ông Hà Vĩ cho biết hiện Việt Nam đã có hơn 20 loại rau quả được phép xuất khẩu chính ngạch vào Trung Quốc; đồng thời nhấn mạnh đến vai trò của hải quan thông minh, cửa khẩu thông minh và công nghệ truy xuất nguồn gốc trong việc nâng cao hiệu quả thông quan, giảm chi phí logistics và tăng tính minh bạch của chuỗi cung ứng.
Từ góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Minh Vũ, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao, cho rằng dư địa hợp tác nông nghiệp giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn rất lớn trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, an toàn và thông minh ngày càng phát triển.
Để khai thác hiệu quả tiềm năng này, ông Vũ đề xuất ba định hướng trọng tâm.
Thứ nhất: Hiện thực hóa chủ trương của lãnh đạo cấp cao hai nước về việc chuyển từ giao thương đơn thuần sang xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng và tiêu thụ nông sản bền vững.
Thứ hai: Đẩy nhanh tiến trình mở cửa thị trường, tăng cường hợp tác về tiêu chuẩn, kiểm nghiệm, kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc.
Thứ ba: Tận dụng hiệu quả các nền tảng thương mại điện tử và kinh tế số nhằm nâng cao hiệu quả thương mại nông sản.
Từ phía doanh nghiệp Trung Quốc, ông Chương Lâm, Chủ tịch Hội Doanh nhân Trung Quốc tại Việt Nam - Chi hội TP.Hồ Chí Minh, cho rằng hợp tác nông nghiệp Việt Nam - Trung Quốc hiện được thúc đẩy bởi ba động lực chính là nền tảng tin cậy chính trị, sự phát triển của hạ tầng logistics và quá trình chuyển đổi số.
Theo ông Chương Lâm, mạng lưới vận tải đa phương thức giữa hai nước ngày càng hoàn thiện với sự kết hợp của đường bộ, đường sắt, đường biển và hàng không. Hệ thống “luồng xanh” dành cho nông sản cùng các trung tâm logistics và kho lạnh hiện đại tại khu vực cửa khẩu đang góp phần rút ngắn thời gian vận chuyển, nâng cao hiệu quả thông quan và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Đánh giá chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng cho phát triển nông nghiệp xanh, ông Lâm nhấn mạnh: Việc xây dựng hải quan thông minh, cửa khẩu thông minh và ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc bằng mã QR giúp nâng cao tính minh bạch, khả năng kiểm soát chất lượng và niềm tin của người tiêu dùng.
Trong khi đó, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) nhận định hạ tầng logistics xuyên biên giới giữa hai nước đang được cải thiện đáng kể nhờ các tuyến vận tải mới và hệ thống cửa khẩu thông minh. Tuy nhiên, cơ hội luôn đi kèm với áp lực cạnh tranh khi Trung Quốc liên tục hoàn thiện các quy định quản lý nhập khẩu và nhiều quốc gia trong khu vực đang gia tăng hiện diện tại thị trường này.
Vì vậy, trọng tâm trong giai đoạn tới không chỉ là mở cửa thị trường mà là xây dựng hệ sinh thái xuất khẩu bền vững thông qua phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đầu tư chế biến sâu, nâng cao năng lực logistics và chuỗi lạnh, thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới, đồng thời tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...