Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo đang trở thành xu thế toàn cầu, công nghiệp văn hóa nổi lên như một trụ cột quan trọng, không chỉ nuôi dưỡng đời sống tinh thần mà còn tạo ra giá trị kinh tế bền vững. Theo báo cáo mới nhất của UNESCO (tháng 10/2025), các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo toàn cầu đóng góp 3,39% GDP thế giới và tạo việc làm cho trên 50 triệu lao động (một số quốc gia phát triển như Anh, Hàn Quốc có thể đạt 7% GDP). Tại Việt Nam, công nghiệp văn hóa đang được Đảng và Nhà nước xác định là động lực tăng trưởng mới.
Hàn Quốc được biết đến là quốc gia đã đạt được những thành tựu nổi bật trong công nghiệp văn hóa, đưa “Làn sóng Hallyu” trở thành hiện tượng toàn cầu, bắt đầu từ những năm 1990 và bùng nổ mạnh mẽ từ những năm 2000 đến nay, thu hút hàng triệu người hâm mộ trên khắp thế giới.
Làn sóng Hallyu đã đưa doanh thu xuất khẩu sản phẩm văn hóa (phim ảnh, âm nhạc, game, thời trang) của Hàn Quốc đạt tới 13,4 tỷ USD năm 2024, đóng góp khoảng 1% GDP trực tiếp và 20% doanh thu du lịch quốc gia. Thành công này đến từ sự kết hợp hài hòa giữa chính sách hỗ trợ sáng tạo, đầu tư từ công nghệ số, bảo tồn bản sắc dân tộc và truyền thông tổng hợp của Hàn Quốc.
Trong chuyến thăm Hàn Quốc tháng 8/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu các định hướng hợp tác quan trọng Việt Nam – Hàn Quốc, trong đó nhấn mạnh: “Việt Nam mong muốn học tập kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc về xây dựng, triển khai hiệu quả chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, quảng bá văn hóa, du lịch”. Tất nhiên sự học hỏi này phải dựa trên bản sắc và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, để văn hóa thật sự trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển.
Ông Nguyễn Văn Hùng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho biết Việt Nam sở hữu kho tàng văn hóa, lịch sử phong phú, nguồn nhân lực trẻ, sáng tạo và thị trường gần 100 triệu dân, đó là nền tảng để xây dựng một nền công nghiệp văn hóa hiện đại, có bản sắc và khả năng cạnh tranh quốc tế. Ngành Văn hóa chuyển tư duy từ “làm văn hóa” sang “quản lý nhà nước về văn hóa” để làm tăng “hàm lượng” văn hóa trong các hoạt động văn hóa. Trên cơ sở đó, các hoạt động văn hóa không dừng lại ở mức giao lưu mà sẽ thỏa thuận cam kết đẩy mạnh hợp tác văn hóa, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực.
Mặt khác, tiềm năng phát triển của công nghiệp văn hóa còn rất lớn khi hơn 8.000 lễ hội truyền thống chỉ khai thác khoảng 20% giá trị kinh tế. Các lễ hội như: Đền Hùng (Phú Thọ), Festival Huế, hay các sự kiện địa phương như Lễ hội Dừa Bến Tre đã chứng minh khả năng kết hợp văn hóa - thương mại. Bài toán đặt ra là làm sao để các lễ hội chuyển từ “tiêu tiền theo mùa” sang “sinh lời quanh năm”, từ hoạt động văn hóa đơn lẻ thành sản phẩm có bản quyền, có thương hiệu và có khả năng xuất khẩu. Đây chính là ranh giới phân biệt giữa tổ chức sự kiện văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa đúng nghĩa, khi đó bản sắc Việt mới trở thành sản phẩm toàn cầu.
Trong kỷ nguyên số, công nghiệp văn hóa không chỉ là sức mạnh mềm mà còn là động lực cạnh tranh quốc gia. Như Tổng Bí thư Tô Lâm giao nhiệm vụ cho ngành Văn hóa: “Phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành trụ cột mới của tăng trưởng”, trở thành giá trị sinh lời, góp phần đa dạng hóa kinh tế, hướng tới “kỳ tích sông Hồng” trong lĩnh vực giải trí châu Á.
Năm 2025 đánh dấu bước tiến mạnh mẽ với sự chủ động của các địa phương về phát triển công nghiệp văn hóa, nhất là sau khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 2486/QĐ-TTg (ngày 14/11/2025) phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chiến lược tiếp tục khẳng định mục tiêu đầy tham vọng: công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045 và xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt được ưu tiên phát triển gồm: điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và các trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa; thiết kế sáng tạo; truyền hình và phát thanh; xuất bản.
Năm 2025, tổng doanh thu phim điện ảnh Việt đạt hơn 3.000 tỷ đồng, là minh chứng cho thấy Việt Nam đang nằm trong nhóm những thị trường điện ảnh có tốc độ phát triển ấn tượng nhất toàn cầu. Tỷ trọng phim Việt Nam đã vươn tử 42% doanh thu (2024) lên đến 62% (năm 2025). Theo ông Đặng Trần Cường, Cục trưởng Cục Điện ảnh, đó là dấu mốc mở đầu cho một giai đoạn mới “giúp phim Việt giữ vững thị trường trong nước, đồng thời tăng hiện diện và sức cạnh tranh ở khu vực và quốc tế”.
Động lực phát triển công nghiệp văn hóa từ một số địa phương đang tạo ra những đột phá thúc đẩy sự phát triển kinh tế không những cho từng địa phương mà còn cho cả nước hướng tới mục tiêu nói trên. Có thể ví dụ từ một số địa phương nổi bật như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng…
Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 270/KH-UBND (1/10/2025), triển khai Nghị quyết 24/2025/NQ-HĐND là thể chế hóa tầm nhìn phát triển văn hóa như một ngành kinh tế mũi nhọn - đúng tinh thần của Luật Thủ đô (sửa đổi) và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa quốc gia. Đây là mô hình phát triền kinh tế sáng tạo đã được nhiều Thủ đô như: Seoul, London, Paris hay Singapore thực hiện thành công.
Theo đó, Hà Nội đặt mục tiêu từ nay đến năm 2030 xây dựng 10 trung tâm công nghiệp văn hóa; đến năm 2045, sẽ xây dựng mới một khu trung tâm công nghiệp văn hóa hiện đại, quy mô tầm cỡ ở bãi giữa và bãi nổi sông Hồng. Thủ đô tận dụng di sản như: Không gian đi bộ Hồ Gươm, Phố sách Hà Nội, Hoàng Thành Thăng Long để xây dựng hệ sinh thái số hóa, kết nối quốc tế.
TP. Hồ Chí Minh lựa chọn 8 lĩnh vực, ngành công nghiệp văn hóa gồm: điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, quảng cáo, du lịch văn hóa và thời trang để phát triển từ nay đến năm 2030.
Năm 2025, TP. Hồ Chí Minh phấn đấu tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp văn hóa đạt bình quân khoảng 14%/năm, doanh thu đóng góp khoảng 5,7% GRDP của Thành phố và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội. Đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp văn hóa của Thành phố đạt bình quân khoảng 12%/năm, đóng góp khoảng 7-8% GRDP. Dự kiến, tổng doanh thu của 8 ngành công nghiệp văn hóa sẽ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế-xã hội của Thành phố khoảng 148.000 tỷ đồng.
Để thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển, cần thực hiện một số giải pháp.
Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp với tài chính, trong đó cần xây dựng rõ cơ chế hợp tác công tư, nếu không có hợp tác công tư sẽ rất khó làm công nghiệp văn hóa.
Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đặc biệt là nhân lực có tư duy sáng tạo trong các lĩnh vực văn hóa và cán bộ quản lý văn hóa.
Thứ ba, lựa chọn khu vực phát triển công nghiệp hóa sát với thực tiễn thực hiện ở các địa phương và cần định hình trung tâm dữ liệu để phát triển công nghiệp hóa có bước đi vững vàng hơn.
Thứ tư, định vị, quảng bá Việt Nam và các ngành công nghiệp hóa Việt Nam trên thị trường thế giới một cách mạnh mẽ hơn bằng cách đưa ra biểu tượng cho công nghiệp hóa, kiểu như Hallyu (làn sóng Hàn Quốc); Anime là phim hoạt hình, managga là truyện tranh của Nhật Bản)…
Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa và tăng cường chuyển đổi số trong ngành văn hóa…
Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là mục tiêu văn hóa, mà là trụ cột kinh tế chiến lược trong kỷ nguyên sáng tạo. Khi “bản sắc Việt” được xuất khẩu dưới lớp áo hiện đại, văn hóa sẽ trở thành nguồn lực mềm cho tăng trưởng cứng, vừa tạo việc làm, vừa lan tỏa hình ảnh đất nước.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
Dù tiêu thụ 80% nguyên liệu rừng trồng, dăm gỗ và viên nén chỉ mang lại 3-4 tỷ USD trong tổng 18 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ. Trái lại, chế biến sâu chỉ dùng 20% nguyên liệu nhưng tạo ra giá trị xuất khẩu tới 14-15 tỷ USD. Chuỗi liên kết lỏng lẻo đang là điểm nghẽn lớn cản trở ngành trồng rừng - chế biến gỗ nâng cao giá trị gia tăng.
Áp lực giải ngân trong thời gian còn lại của năm 2026 rất lớn, song vấn đề đặt ra không chỉ là giải ngân hết vốn mà phải chuyển vốn ngân sách thành khối lượng công trình thực tế, năng lực sản xuất mới và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm 2026, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không? Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là chúng ta lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bứt phá trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, việc tháo gỡ điểm nghẽn cho các ngành kinh tế mũi nhọn là yêu cầu cấp bách. Từ áp lực thuế quan đối với ngành dệt may, gỗ, bài toán chi phí của ngành điện tử, phân bón đến những rào cản pháp lý trong bán lẻ và thương mại điện tử, đại diện các hiệp hội ngành hàng đồng loạt đưa ra nhiều đề xuất nhằm khơi thông nguồn lực và kiến tạo động lực phát triển mới.
Một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay của Việt Nam là làm thế nào để vừa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn. Mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% trong giai đoạn tới cần được hiểu là mức bình quân của cả giai đoạn, thay vì yêu cầu mọi năm đều phải đạt trên 10%. Cách tiếp cận này giúp tránh tư duy tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời tạo dư địa để điều hành kinh tế linh hoạt theo từng thời kỳ....
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đang trải qua tuần làm việc đầu tiên. Hàng loạt các dự án Luật, dự thảo Luật quan trọng được các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận. Trong đó có dự án Nghị quyết nhằm bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.