Người Việt xưa có câu “thất thập cổ lai hy” để nói rằng sống đến 70 tuổi là điều hiếm gặp. Ngày nay, hình ảnh những cụ ông, cụ bà ngoài 70, 80 tuổi đã trở nên quen thuộc trong mỗi gia đình và khu phố. Điều từng được xem là ngoại lệ đang dần trở thành trạng thái bình thường của xã hội.
Sống lâu hơn là một thành tựu quan trọng của phát triển. Nhưng khi số người cao tuổi tăng nhanh, số trẻ được sinh ra ngày càng ít và quy mô gia đình thu hẹp, thành tựu ấy cũng đặt đất nước trước một chuyển đổi chưa từng có.
Già hóa không chỉ là câu chuyện có thêm bao nhiêu người bước qua tuổi 60 hay 65. Người Việt sống lâu hơn, nhưng có sống khỏe hơn không? Ai sẽ chăm sóc họ khi gia đình nhiều thế hệ thu hẹp? Hệ thống y tế và an sinh sẽ thích ứng thế nào với bệnh mạn tính, phục hồi chức năng, chăm sóc dài hạn và số người nghỉ hưu ngày càng tăng?
Già hóa không mặc nhiên là gánh nặng. Người cao tuổi vẫn có thể lao động, sáng tạo và đóng góp cho cộng đồng. Thách thức nằm ở chỗ quá trình này đang diễn ra nhanh hơn khả năng chuẩn bị của hệ thống và mỗi gia đình.
Già hóa là kết quả tích lũy của mức sinh giảm, tuổi thọ tăng và các thế hệ sinh đông dần bước vào tuổi cao niên. Với Việt Nam, nền tảng của xã hội già hóa đã hình thành từ lâu trước năm 2011.
Trong những năm 1960, mỗi phụ nữ Việt Nam trung bình sinh hơn 6 người con. Theo số liệu được Ngân hàng Thế giới (WB) tổng hợp, tổng tỷ suất sinh giảm từ khoảng 6,3 con trên mỗi phụ nữ năm 1960 xuống 4,8 con năm 1979; 3,8 con năm 1989; khoảng 2,3 con năm 1999. Đến đầu những năm 2000, mức sinh đã tiến gần mức sinh thay thế khoảng 2,1 con trên mỗi phụ nữ và có thời điểm xuống dưới ngưỡng này từ năm 2006. Trong chưa đầy nửa thế kỷ, Việt Nam chuyển từ mô hình gia đình đông con sang gia đình chỉ có một hoặc hai con.
Sự thay đổi ấy từng giúp Việt Nam bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng, khi số trẻ phụ thuộc giảm và lực lượng lao động tăng. Nhưng các thế hệ ít con hơn cũng đồng nghĩa với lực lượng lao động và mạng lưới chăm sóc gia đình sẽ thu hẹp khi dân số già đi.
Song song với mức sinh giảm, tử vong trẻ em giảm và khả năng phòng, chữa bệnh được cải thiện. Tuổi thọ trung bình khi sinh tăng từ khoảng 51 tuổi năm 1950 lên khoảng 75 tuổi năm 2016. Đây là thành tựu phát triển, nhưng cũng làm thay đổi nhanh cấu trúc tuổi.
Khi các thế hệ sinh đông sau năm 1945 bước vào tuổi cao niên, tháp dân số dần thu hẹp ở đáy và mở rộng ở phần trên. Vì vậy, năm 2011 không phải thời điểm Việt Nam đột ngột già hóa, mà là dấu mốc của quá trình kéo dài nhiều thế hệ: người từ 60 tuổi trở lên đã chiếm trên 10% dân số.
Sau năm 2011, quy mô người cao tuổi tăng nhanh. Nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm khoảng 11,9% dân số năm 2019; đến năm 2024 đạt khoảng 14,2 triệu người, tăng 4,7 triệu người trong một thập niên, và có thể đạt 18 triệu vào năm 2030.
Năm 2024, tổng tỷ suất sinh chỉ còn khoảng 1,91 con trên mỗi phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế. Mức sinh khác biệt lớn giữa các vùng nên tốc độ già hóa, thu hẹp lực lượng lao động và nhu cầu chăm sóc cũng sẽ không đồng đều trên cả nước.
Mốc đáng chú ý tiếp theo là khoảng năm 2036, khi tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên được dự báo đạt 14% dân số, đưa Việt Nam từ một xã hội “đang già hóa” sang xã hội “già”. Đến năm 2050, người từ 60 tuổi trở lên có thể chiếm hơn một phần tư dân số. Không chỉ tổng số người cao tuổi tăng mà tỷ trọng người từ 80 tuổi trở lên, nhóm thường cần nhiều hỗ trợ sức khỏe và sinh hoạt hơn, cũng ngày càng lớn.
Điều đáng quan tâm nhất là tốc độ chuyển đổi. Trong khi nhiều nước châu Âu có hàng chục năm để điều chỉnh hưu trí, y tế và chăm sóc xã hội, Việt Nam chỉ có khoảng hai thập niên và đang già hóa khi thu nhập, độ bao phủ lương hưu và dịch vụ chăm sóc dài hạn còn hạn chế. Người bước sang tuổi 60 vào năm 2050 hiện đã ngoài 30; chất lượng tuổi già của họ phụ thuộc vào những lựa chọn chính sách ngay trong thập niên này.
Italia là quốc gia cho thấy điều gì có thể xảy ra khi tuổi thọ cao, mức sinh thấp và quy mô gia đình cùng thu hẹp.
Đầu năm 2025, gần 24,7% dân số Italia từ 65 tuổi trở lên và 4,1% đã trên 85 tuổi. Tổng tỷ suất sinh năm 2024 chỉ còn khoảng 1,18 con trên mỗi phụ nữ. Đến năm 2050, nhóm từ 65 tuổi trở lên được dự báo chiếm khoảng 34% dân số.
Tuổi thọ trung bình của người Italia đạt khoảng 83 tuổi năm 2022, nhưng đa bệnh lý, hạn chế vận động và nhu cầu hỗ trợ tăng rõ sau tuổi 80. Hệ thống y tế vì thế phải chuyển từ điều trị bệnh cấp tính sang quản lý lâu dài nhiều bệnh, phục hồi chức năng và chăm sóc tại nhà.
Năm 2021, chi tiêu y tế của Italia tương đương khoảng 9,4% GDP, nhưng mức chi bình quân đầu người vẫn thấp hơn trung bình Liên minh châu Âu. Thiếu nhân lực, chênh lệch dịch vụ giữa các vùng và sự phụ thuộc vào gia đình khiến một phần chi phí của già hóa chuyển thành thời gian, thu nhập và sức khỏe mà người thân, nhất là phụ nữ, phải đánh đổi.
Italia đã giám sát sức khỏe người cao tuổi, thúc đẩy “già hóa tích cực”, chăm sóc tại nhà và khuyến sinh. Tuy nhiên, các biện pháp riêng lẻ khó giải quyết một chuyển đổi hệ thống: khuyến sinh không lập tức bổ sung lao động, bệnh viện không thay thế được chăm sóc ban đầu và dựa chủ yếu vào gia đình ngày càng thiếu bền vững.
Nhật Bản đem lại bài học về tài chính khi triển khai bảo hiểm chăm sóc dài hạn toàn quốc từ năm 2000, chia sẻ trách nhiệm giữa ngân sách công, đóng góp bảo hiểm và người sử dụng. Chính quyền địa phương đánh giá nhu cầu và tổ chức chăm sóc tại nhà, ban ngày, phục hồi chức năng hoặc chăm sóc tại cơ sở. Dù vẫn chịu áp lực chi phí và nhân lực, mô hình khẳng định chăm sóc dài hạn là một cấu phần của an sinh, không phải việc riêng của gia đình.
Thụy Điển lấy khả năng sống độc lập và chăm sóc tại cộng đồng làm trung tâm. Chính quyền địa phương tổ chức phần lớn dịch vụ, còn dữ liệu theo dõi dài hạn giúp nhận diện thay đổi về sức khỏe, chức năng, điều kiện sống và hiệu quả chăm sóc. Dữ liệu không chỉ để đếm người cao tuổi mà để xác định ai cần hỗ trợ và mô hình nào phù hợp.
Ba quốc gia trên không cung cấp một khuôn mẫu có thể sao chép nguyên vẹn, nhưng cùng gợi ra ba nguyên tắc cho Việt Nam: dự báo áp lực y tế trước khi hệ thống quá tải; xây dựng cơ chế tài chính bền vững cho chăm sóc dài hạn; phát triển dịch vụ dựa trên dữ liệu, ưu tiên chăm sóc tại nhà và cộng đồng.
Tuổi thọ tăng là thước đo của tiến bộ, nhưng xã hội chỉ thực sự hưởng lợi khi người dân duy trì được sức khỏe, khả năng vận động và sự độc lập trong phần lớn cuộc đời.
Theo WB, năm 2016, một người Việt Nam sống đến tuổi 60 có thể kỳ vọng sống thêm trung bình 22,7 năm, tức tới khoảng 82-83 tuổi. Tuy nhiên, số năm được kỳ vọng sống trong trạng thái khỏe mạnh chỉ khoảng 17,2 năm. Như vậy, trung bình có hơn 5 năm sống thêm có thể đi cùng bệnh tật, suy giảm chức năng hoặc nhu cầu được hỗ trợ. Khoảng cách này cho thấy kéo dài tuổi thọ chưa tự động đồng nghĩa với kéo dài một cuộc sống khỏe mạnh và độc lập.
Mô hình bệnh tật cũng thay đổi nhanh. Tỷ trọng bệnh không lây nhiễm trong tổng gánh nặng bệnh tật tăng từ khoảng 51% năm 1990 lên 74% năm 2017; ở nhóm tuổi cao, con số này gần 90%. Tăng huyết áp, tim mạch, đái tháo đường, ung thư, bệnh phổi, cơ xương khớp và thoái hóa thần kinh thường xuất hiện đồng thời. Người cao tuổi có thể phải khám nhiều chuyên khoa và dùng nhiều thuốc; nếu điều trị thiếu kết nối, họ phải đi lại nhiều lần và khó quản lý thuốc. Thách thức do đó là quản lý đa bệnh lý liên tục, lấy con người làm trung tâm.
Suy giảm sức khỏe còn thể hiện ở khả năng ăn uống, tắm rửa, di chuyển, dùng thuốc hay quản lý sinh hoạt. Người cao tuổi có thể chưa cần nhập viện nhưng cần hỗ trợ đều đặn trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.
Điều tra quốc gia về người cao tuổi năm 2011 cho thấy hơn hai phần ba người cao tuổi gặp ít nhất một khó khăn về vận động; gần 38% gặp khó khăn trong ít nhất một hoạt động sinh hoạt hằng ngày và tỷ lệ này khoảng 50% ở nhóm từ 80 tuổi trở lên. Báo cáo của Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc năm 2021 cũng ước tính khoảng 796.000 người cao tuổi, tương đương 6,32% nhóm dân số này, gặp rất nhiều khó khăn hoặc không thể tự thực hiện ít nhất một hoạt động sinh hoạt cơ bản. Đây là nhóm có nhu cầu rõ rệt về chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng hoặc trợ giúp thường xuyên.
Tình trạng sức khỏe khi về già không giống nhau ở mọi người. Người thu nhập thấp, làm việc nặng nhọc, ít tiếp cận y tế dự phòng hoặc sống ở nơi thiếu dịch vụ thường bước vào tuổi già với nhiều bất lợi tích lũy hơn. Họ có thể mắc bệnh sớm nhưng phát hiện muộn và ít nguồn lực để điều trị. Phụ nữ thường sống lâu hơn nam giới nhưng cũng có xu hướng sống nhiều năm hơn với suy giảm sức khỏe.
Do thời gian làm việc trong khu vực phi chính thức hoặc chăm sóc gia đình không được trả công, nhiều phụ nữ còn có lương hưu thấp, ít tích lũy và nguy cơ sống một mình cao hơn. Vì vậy, mục tiêu của Việt Nam không thể chỉ là tăng tuổi thọ trung bình, mà phải trì hoãn bệnh tật, thu hẹp khoảng cách giữa tuổi thọ và tuổi thọ khỏe mạnh, đồng thời duy trì khả năng tự chủ lâu nhất có thể.
Áp lực tài chính của già hóa cần được nhìn trên ba phương diện: chi phí khám chữa bệnh; chi phí chăm sóc dài hạn; và phần thu nhập hoặc thời gian lao động mà gia đình phải hy sinh để chăm sóc người thân.
Theo WB, tổng chi tiêu y tế hiện hành năm 2016 cao gấp khoảng 7,7 lần năm 2000 theo giá danh nghĩa, trong khi dân số chỉ tăng khoảng 19%. Chi tiêu công cho y tế tăng từ khoảng 12 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên 109 nghìn tỷ đồng năm 2015; tính theo đầu người và loại trừ lạm phát vẫn tăng gần gấp ba. Ngoài già hóa, mức tăng còn do giá, công nghệ, cường độ sử dụng dịch vụ và kỳ vọng về chất lượng.
Dù bảo hiểm y tế đã được mở rộng, chi trả trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 43% tổng chi tiêu y tế năm 2018. Với người cao tuổi mắc nhiều bệnh mạn tính, gánh nặng có thể tích lũy qua nhiều lần tái khám, xét nghiệm, mua thuốc, đi lại và điều trị kéo dài, khiến gia đình thu nhập thấp phải trì hoãn điều trị, vay mượn hoặc cắt giảm nhu cầu thiết yếu khác.
Khám chữa bệnh mới chỉ là một phần. Khi chức năng suy giảm, người cao tuổi cần chăm sóc dài hạn để tiếp tục sống an toàn và có phẩm giá. Nhu cầu có thể kéo dài nhiều năm, nhưng Việt Nam chưa có một hệ thống thống nhất về tài chính, tiêu chuẩn chất lượng và nhân lực.
Phần lớn người cao tuổi Việt Nam mong muốn được chăm sóc tại nhà, gần con cháu và cộng đồng, nhưng chăm sóc tại nhà không có nghĩa là không tốn kém. Một thành viên gia đình có thể phải giảm giờ làm hoặc rời thị trường lao động; đồng thời đối mặt với áp lực thể chất, căng thẳng tâm lý và nguy cơ kiệt sức. Trong nhiều gia đình, công việc không được trả công này chủ yếu do người vợ, con gái hoặc con dâu đảm nhận.
Khi con cái sống xa cha mẹ vì học tập, di cư hoặc việc làm, mô hình dựa gần như hoàn toàn vào gia đình càng trở nên mong manh.
Nếu không chuẩn bị sớm, Việt Nam có thể đồng thời đối mặt với bệnh viện quá tải, quỹ bảo hiểm chịu áp lực, gia đình tăng chi trực tiếp và nhiều giờ lao động bị chuyển sang chăm sóc không chính thức. Đầu tư cho phòng bệnh, y tế cơ sở, phục hồi chức năng và chăm sóc tại nhà do đó không chỉ là chi thêm cho người cao tuổi, mà còn giúp giảm nhập viện có thể phòng tránh và phân bổ chi phí công bằng hơn giữa Nhà nước, xã hội và gia đình.
Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn 2045 cùng trợ giúp xã hội và các câu lạc bộ liên thế hệ là những bước đi quan trọng. Tuy nhiên, Việt Nam cần cách tiếp cận toàn diện hơn, giúp người dân duy trì sức khỏe, năng lực làm việc và tự chủ trong suốt cuộc đời.
Thứ nhất, chuyển từ kéo dài tuổi thọ sang kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh. Già hóa khỏe mạnh phải bắt đầu trước tuổi 60. Các nguy cơ từ hút thuốc, rượu bia, ít vận động, dinh dưỡng không hợp lý, thừa cân, tăng huyết áp và đái tháo đường tích lũy từ sớm nhưng bộc lộ rõ khi về già. Phòng bệnh, tiêm chủng, dinh dưỡng, vận động, sức khỏe tinh thần và phát hiện sớm bệnh không lây nhiễm sẽ giúp giảm những năm sống với bệnh tật.
Thứ hai, tổ chức hệ thống y tế theo hướng chăm sóc tích hợp. Y tế cơ sở cần quản lý sức khỏe liên tục và điều phối giữa bác sĩ gia đình, chuyên khoa, dược sĩ, phục hồi chức năng và dịch vụ xã hội. Hồ sơ điện tử liên thông có thể giảm xét nghiệm trùng lặp và tương tác thuốc. Việt Nam cũng cần tăng đào tạo về lão khoa, điều dưỡng, phục hồi chức năng, sa sút trí tuệ và chăm sóc giảm nhẹ.
Thứ ba, đưa chăm sóc dài hạn trở thành một cấu phần chính thức của an sinh. Việt Nam cần khung pháp lý, tiêu chí đánh giá nhu cầu, tiêu chuẩn chất lượng và cơ chế giám sát. Nên ưu tiên chăm sóc tại nhà, chăm sóc ban ngày, hỗ trợ người chăm sóc và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng trước khi mở rộng chăm sóc nội trú. Về tài chính, có thể thí điểm bảo hiểm chăm sóc dài hạn hoặc cơ chế cùng chi trả kết hợp ngân sách, bảo hiểm và đóng góp theo khả năng; đồng thời bảo vệ người thu nhập thấp và người cao tuổi sống một mình.
Thứ tư, giúp người cao tuổi tiếp tục tham gia kinh tế và xã hội. Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu cần đi cùng môi trường thân thiện theo độ tuổi, đào tạo lại và việc làm linh hoạt; không thể áp dụng một kỳ vọng cho lao động trí óc và người làm việc nặng nhọc. Chính sách cũng cần mở rộng lương hưu, bảo hiểm xã hội cho lao động phi chính thức và tạo cơ hội để người cao tuổi tham gia cộng đồng.
Thứ năm, xây dựng chính sách dựa trên dữ liệu và thúc đẩy nền kinh tế chăm sóc. Dữ liệu dài hạn về sức khỏe, chức năng, điều kiện sống và nhu cầu dịch vụ cần được phân tích theo giới, thu nhập, vùng miền và khuyết tật. Nhà nước có thể hợp tác với doanh nghiệp và tổ chức xã hội phát triển thiết bị hỗ trợ, nhà ở phù hợp, chăm sóc tại nhà và y tế từ xa. Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phát hiện nguy cơ, quản lý bệnh mạn tính nhưng không thay thế sự chăm sóc của con người.
Các giải pháp liên kết chặt chẽ: phòng bệnh giảm nhu cầu chăm sóc; y tế cơ sở hạn chế nhập viện; chăm sóc dài hạn chia sẻ gánh nặng gia đình; việc làm và an sinh giúp duy trì độc lập. Thích ứng với già hóa vì thế phải là một chiến lược phát triển quốc gia.
Ngày nay, sống lâu hơn đã phổ biến, nhưng thành tựu ấy chỉ trọn vẹn khi con người còn khỏe mạnh, độc lập, được kết nối và tôn trọng.
Già hóa không phải một cuộc khủng hoảng tất yếu. Điều quyết định là xã hội có chuẩn bị đủ sớm để phát huy tri thức, kinh nghiệm của người cao tuổi và bảo vệ những người cần được chăm sóc hay không.
Những người sẽ bước vào tuổi già trong hai hoặc ba thập niên tới chính là lực lượng lao động hôm nay. Vì vậy, đầu tư cho phòng bệnh, y tế cơ sở, an sinh, chăm sóc dài hạn và môi trường sống phù hợp với mọi lứa tuổi không chỉ là chính sách dành cho người cao tuổi, mà là sự chuẩn bị cho tương lai của mỗi người và sức bền của quốc gia. Già hóa chỉ trở thành gánh nặng nếu chúng ta chờ đến khi đã già mới bắt đầu hành động.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 38-2026 phát hành ngày 03/08/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-382026.html
Theo đó, Vietjet cung cấp miễn phí cho hành khách trên tất cả các chuyến bay của các hãng hàng không mang thương hiệu Vietjet. Giai đoạn đầu, Starlink sẽ được trang bị trên 120 tàu bay Vietjet và tiếp tục triển khai trên toàn đội tàu tương lai.
Dự án tuyến đường nối từ đường Hồ Sen đến nút giao thông quán Mau có chiều dài 640m có tổng mức đầu tư 1.244 tỷ đồng…
Cục Hàng không Việt Nam vừa trình Bộ Xây dựng thẩm định, phê duyệt hồ sơ điều chỉnh Quy hoạch chi tiết Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó bổ sung, điều chỉnh nhiều hạng mục hạ tầng để đáp ứng yêu cầu khai thác và phục vụ APEC 2027...
Thủ tướng yêu cầu điều chuyển vốn từ các dự án chậm giải ngân sang dự án có khả năng hấp thụ vốn, đồng thời tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về vật liệu xây dựng, giải phóng mặt bằng và thủ tục để bảo đảm tiến độ các dự án giao thông trọng điểm...
Hiện quy mô khối quỹ mở nội địa vẫn còn nhỏ bé so với hơn 13 triệu tài khoản chứng khoán cá nhân đang giao dịch. Trước sự lệch pha này và mục tiêu đưa quy mô ngành quỹ đạt 5% GDP vào năm 2030, ngành quỹ cần một lộ trình bứt phá từ chiến lược thu hút 1,8 triệu nhà đầu tư mới, hạ tầng công nghệ số hóa đến việc thay đổi tư duy sang quản lý gia sản dài hạn...
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Làng nghề gỗ truyền thống đang ngày càng khẳng định tay nghề trong từng đường đục, nét chạm; tìm hướng đổi mới sản phẩm, ứng dụng công nghệ, mở rộng thị trường và tận dụng phụ phẩm gỗ, từng bước hình thành chuỗi sản xuất và tiêu dùng bền vững.