Phát biểu tại Diễn đàn "Phát triển hạ tầng năng lượng thông minh” ngày 24/6/2026, ông Phạm Mạnh Hùng, Phó Tổng Giám đốc VOV, cho biết Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu rất lớn và đầy khát vọng. Đại hội XIV của Đảng xác định đến năm 2030 nước ta trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Các yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu hạ tầng năng lượng phải đi trước một bước, bảo đảm cung ứng đầy đủ, ổn định và an toàn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như đời sống xã hội.
Hạ tầng năng lượng của tương lai không chỉ còn là những nhà máy điện hay những đường dây truyền tải điện, mà phải là hạ tầng thông minh, được vận hành trên nền tảng dữ liệu, công nghệ số và các giải pháp đổi mới sáng tạo.
Từ lưới điện thông minh, hệ thống lưu trữ năng lượng, tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, đến việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và Internet vạn vật trong quản lý và vận hành hệ thống năng lượng, tất cả đang mở ra những cơ hội mới để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm phát thải và tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra không ít thách thức về cơ chế chính sách, nguồn vốn đầu tư, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao.
Phát biểu tại diễn đàn, ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho biết theo Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, chỉ riêng trong giai đoạn 2021–2030, tổng vốn đầu tư cho các dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải của Việt Nam cần khoảng 134,7 tỷ USD (trong đó nguồn điện khoảng 119,8 tỷ USD, lưới điện khoảng 14,9 tỷ USD).
Bước sang giai đoạn 2031–2050, con số này sẽ tăng lên lên mức 399,2 tỷ đến 523,1 tỷ USD. Bên cạnh việc bảo đảm đủ điện cho nền kinh tế, Việt Nam còn đang thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, phát triển năng lượng tái tạo và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Điều này đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn cho các dự án điện gió, điện mặt trời, điện khí LNG, hệ thống lưu trữ năng lượng và lưới điện thông minh.
Do đó, nguồn vốn tín dụng đóng vai trò quan trọng cho đầu tư phát triển hạ tầng điện, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Hiện nay, dư nợ tín dụng đối với ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí chiếm khoảng 3% tổng dư nợ nền kinh tế.
Theo ông Nguyễn Xuân Bắc, bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay, việc cấp tín dụng đối với ngành điện đang gặp khó khăn. Các dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải thường có tổng mức đầu tư đặc biệt lớn và thời gian hoàn vốn kéo dài, dẫn đến áp lực lớn cho các ngân hàng thương mại về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và giới hạn tín dụng đối với một khách hàng hoặc nhóm khách hàng liên quan.
Cùng với đó, nhiều dự án điện gặp khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, cơ chế giá điện hoặc các vấn đề pháp lý liên quan, làm gia tăng rủi ro tín dụng.
Hơn nữa, các dự án năng lượng tái tạo vẫn đang cần hoàn thiện cơ chế chính sách về giá mua điện, hợp đồng mua bán điện và khả năng giải tỏa công suất, ảnh hưởng đến khả năng thu xếp vốn.
Nhằm khơi thông và phát huy tối đa vai trò của nguồn vốn tín dụng trong phát triển hạ tầng điện, ông Nguyễn Xuân Bắc cho rằng hệ thống giải pháp đồng bộ cần được triển khai trên cả 3 trụ cột: chính sách, thị trường vốn và khả năng hấp thụ của doanh nghiệp.
Trước hết, hoàn thiện thể chế và minh bạch hóa cơ chế giá điện. Trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ triển khai Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, đồng thời xây dựng cơ chế giá điện minh bạch, hài hòa lợi ích giữa các bên. Đây là điều kiện tiên quyết để kiến tạo môi trường đầu tư ổn định, giúp các tổ chức tín dụng an tâm giải ngân dài hạn.
Tiếp đến, đa dạng hóa nguồn vốn và thúc đẩy tài chính xanh: Khuyến khích các ngân hàng thương mại tăng cường hợp vốn (đồng tài trợ) đối với các dự án lớn. Đồng thời cần giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng bằng cách phát triển đồng bộ thị trường trái phiếu xanh, trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư hạ tầng; trong đó ưu tiên dòng vốn tín dụng xanh cho năng lượng sạch, lưới điện thông minh.
Tăng cường kết nối liên ngành và nâng cao năng lực chủ đầu tư. Thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin liên ngành thông qua các cuộc họp của Ban Chỉ đạo nhà nước các chương trình, công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các công trình trọng điểm. Song song đó, các doanh nghiệp điện lực phải tự nâng cao năng lực tài chính nội tại thông qua việc tăng vốn chủ sở hữu, minh bạch hóa quản trị và kiểm soát tốt rủi ro dự án.
Dưới góc độ quỹ đầu tư, ông Lê Anh Tuấn, Giám đốc Phát triển kinh doanh, Tổ chức năng lượng Green Yellow, chia sẻ 3 yếu tố chính, bao gồm: vốn, công nghệ và chính sách là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các ngành năng lượng xanh tại Việt Nam.
Tuy nhiên, ở giai đoạn hiện tại, yếu tố có tác động lớn nhất đến quyết định đầu tư của các quỹ đầu tư là sự ổn định và nhất quán về chính sách.
Nguồn vốn ban đầu dành cho các dự án xanh hiện tại không thiếu và đang rất dồi dào. Trong khi đó, công nghệ năng lượng mặt trời, lưu trữ năng lượng hay quản lý tiêu thụ điện cũng đã có những bước tiến đáng kể về khoa học công nghệ. Tuy nhiên, các dự án năng lượng thường có vòng đời đầu tư kéo dài từ 15 đến 25 năm. Vì vậy, các nhà đầu tư cần một môi trường chính sách minh bạch, có khả năng dự báo và ổn định dài hạn trong suốt quá trình này để đánh giá hiệu quả đầu tư, cũng như các phương án tài chính kèm theo.
Khi khung pháp lý rõ ràng, cơ chế giá điện minh bạch và các thủ tục triển khai được đơn giản hóa, dòng vốn và công nghệ sẽ tự nhiên tìm đến thị trường Việt Nam nhiều hơn. Ngược lại, nếu chính sách thay đổi liên tục hoặc thiếu tính nhất quán, chi phí rủi ro sẽ tăng cao. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư, khiến các mô hình tài chính về giá cả mà các nhà đầu tư mang đến thị trường Việt Nam sẽ thay đổi đáng kể.
Do đó, bên cạnh việc khuyến khích đổi mới công nghệ và mở rộng các nguồn tài chính xanh, việc xây dựng một môi trường chính sách ổn định, minh bạch và có tầm nhìn dài hạn chính là nền tảng quan trọng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Trước tình trạng thiếu hụt nguồn cung dầu diesel (DO) tại nhiều cửa hàng bán lẻ trên địa bàn, UBND tỉnh Quảng Trị đã yêu cầu các sở, ngành và doanh nghiệp khẩn trương triển khai các giải pháp nhằm bảo đảm nguồn cung xăng dầu, không để ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân...
Xuất khẩu tôm tiếp tục là điểm sáng của ngành thủy sản trong nửa đầu năm 2026 khi đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, với động lực chủ yếu đến từ thị trường Trung Quốc và sự bứt phá của mặt hàng tôm hùm. Tuy nhiên, phía sau những con số tích cực, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức từ chính sách thuế tại Hoa Kỳ và chi phí logistics gia tăng...
Việc Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch CPTPP năm 2026 đang mở ra cơ hội thúc đẩy kết nối giữa Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với Liên minh châu Âu (EU), qua đó góp phần tăng cường khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, thúc đẩy thương mại số và mở rộng cơ hội đầu tư trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối mặt nhiều biến động…
Dù đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong 6 tháng đầu năm 2026, song xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đang đối mặt với những rủi ro gia tăng từ các vụ điều tra phòng vệ thương mại, rào cản thuế quan và xu hướng thắt chặt chính sách từ chính quyền sở tại...
Đợt mưa lớn kéo dài vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là Lai Châu, Lào Cai, Sơn La và Điện Biên. Theo báo cáo nhanh của Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, tính đến ngày 21/7, thiên tai đã làm 6 người thiệt mạng, 2 người mất tích, hàng trăm ngôi nhà bị hư hỏng, nhiều tuyến giao thông bị chia cắt. Tổng thiệt hại ước tính trên 502,76 tỷ đồng...
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.