Bên cạnh đó, kết phiên 24/10, lãi suất VND liên ngân hàng các kỳ hạn dưới 1 tháng cũng tăng mạnh so với phiên 23/10. Cụ thể: 1 tuần 3,08% ( 0,61%); 2 tuần 2,12% ( 0,84%); 1 tháng 3,2% ( 0,8%).
Kể từ tháng 7/2023, lãi suất VND liên ngân hàng chạm đáy, trong đó, lãi suất VND liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm (chiếm trên 90% giá trị giao dịch) neo ở vùng lãi suất thấp 0,15%-0,2% trong suốt hơn 3 tháng (kể từ tháng 7 đến đầu tháng 10/2023).
Tại ngày 20/9/2023, trước khi Ngân hàng Nhà nước kích hoạt trở lại kênh tín phiếu nhằm hút bớt tiền đồng khỏi hệ thống, lãi suất VND liên ngân hàng qua đêm ở mức 0,16%/năm.
Như vậy, sau hơn 1 tháng nhà điều hành đều đặn hút tiền qua tín phiếu, lãi suất VND liên ngân hàng đã tăng khoảng 17 lần.
Luỹ kế từ 21/9 đến 25/10, nhà điều hành đã phát hành 233.900 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 28 ngày. Tuy nhiên, kể từ ngày 19/10, khối lượng tín phiếu phát hành đã giảm mạnh, từ mức 10.000 đến 20.000 tỷ đồng/phiên xuống còn 4.250 tỷ đồng phiên 19/10; 1.650 tỷ đồng phiên 20/10; 850 tỷ đồng phiên 23 và 24/10; 600 tỷ đồng phiên 25/10. Số lượng tham gia và trúng thầu mỗi phiên chỉ còn 2-3 thành viên; lãi suất neo ở mức 1,45%/năm.
Cũng kể từ phiên 19/10, do khối lượng tín phiếu đáo hạn lớn hơn khối lượng phát hành nên Ngân hàng Nhà nước đã chuyển từ trạng thái hút ròng sang bơm ròng. Luỹ kế từ 19/10 đến 25/10, khoảng 61.795 tỷ đồng đã được bơm trở lại qua thị trường mở.
Giới phân tích từng kỳ vọng động thái phát hành tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước đsẽ đẩy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng VND, giúp làm giảm mức chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và VND, qua đó gián tiếp hỗ trợ tỷ giá.
Theo Công ty Chứng khoán Vietcombank, việc phát hành tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước gần đây không gây ra những cú sốc hay thay đổi quá nhanh đối với thanh khoản VND trong hệ thống liên ngân hàng. Trong quý 4/2023, lãi suất liên ngân hàng được dự báo tăng đáng kể, rời khỏi mặt bằng thấp.
Bên cạnh đó, lãi suất liên ngân hàng khó có thể giảm về mức thấp như hồi đầu năm do một số yếu tố mang tính mùa vụ như: tín dụng thường tăng mạnh vào cuối năm, sự ấm lên của thị trường bất động sản hay tăng đầu tư công kéo theo tiền gửi Kho bạc Nhà nước trong hệ thống sẽ không quá dồi dào,…
Mặc dù vậy, do nhu cầu tín dụng yếu, tính đến 11/10/2023, tăng trưởng tín dụng chỉ đạt gần 7% nên sẽ rất khó xảy ra tình trạng thiếu hụt thanh khoản.
7 tháng năm 2026, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì sự ổn định với những tín hiệu tích cực từ khu vực sản xuất và đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tăng 18,4% so với cùng kỳ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4%, đánh dấu mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân ước đạt 15,20 tỷ USD, thiết lập kỷ lục cao nhất của kỳ 7 tháng trong vòng 5 năm trở lại đây... Trong bối cảnh đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 7 tháng tăng 4,39%, và lạm phát cơ bản được giữ ở mức 4,19%...
Áp lực giải ngân trong thời gian còn lại của năm 2026 rất lớn, song vấn đề đặt ra không chỉ là giải ngân hết vốn mà phải chuyển vốn ngân sách thành khối lượng công trình thực tế, năng lực sản xuất mới và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Ngày 6/8, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank -HOSE: NAB), FiinGroup, Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) và Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI) Việt Nam sẽ phối hợp tổ chức Hội nghị Tài chính Xanh Việt Nam năm 2026 tại TP. Hồ Chí Minh, với sự đồng hành của Optima Wealth Partners…
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm 2026, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không? Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là chúng ta lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay của Việt Nam là làm thế nào để vừa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn. Mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% trong giai đoạn tới cần được hiểu là mức bình quân của cả giai đoạn, thay vì yêu cầu mọi năm đều phải đạt trên 10%. Cách tiếp cận này giúp tránh tư duy tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời tạo dư địa để điều hành kinh tế linh hoạt theo từng thời kỳ....
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.