Mọi hoạt động trao đổi giữa Việt Nam với đối tác quốc tế phải được ghi nhận, công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia. Đây là cơ sở theo dõi nguồn gốc, tình trạng và mục đích sử dụng tín chỉ, qua đó hạn chế tính hai lần và tăng cường minh bạch.
Ngày 01/04/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Đây là văn bản pháp lý nhằm cụ thể hóa Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường, các quy định của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và yêu cầu quản lý hoạt động trao đổi tín chỉ carbon với đối tác quốc tế.
Nghị định số 112/2026/NĐ-CP điều chỉnh hoạt động trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế theo ba khuôn khổ chính.
Thứ nhất, hợp tác theo Khoản 2 Điều 6 Thỏa thuận Paris (Cơ chế Điều 6.2). Theo cơ chế này, Việt Nam có thể ký kết thỏa thuận song phương hoặc đa phương với một quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris hoặc một tổ chức quốc tế để thiết lập khuôn khổ hợp tác chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.
Các thỏa thuận Điều 6.2 quy định nguyên tắc hợp tác; đăng ký dự án; công nhận kết quả giảm phát thải và cấp tín chỉ; tiêu chuẩn hoặc phương pháp tạo tín chỉ được áp dụng; thủ tục chấp thuận chuyển giao quốc tế.
Thứ hai, Cơ chế Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris. Đây là cơ chế trao đổi và bù trừ tín chỉ carbon được vận hành dưới sự giám sát, quản lý tập trung của Ban Thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và kế thừa Cơ chế Phát triển sạch (CDM). Việc đăng ký dự án, phê duyệt phương pháp luận, cấp tín chỉ và quản lý tín chỉ được thực hiện theo các quy định, hướng dẫn quốc tế của Cơ chế Điều 6.4.
Thứ ba, trao đổi tín chỉ từ các chương trình, dự án áp dụng tiêu chuẩn carbon độc lập. Đây là các tiêu chuẩn do tổ chức quốc tế ban hành, quản lý. Các dự án có thể được đăng ký và cấp tín chỉ theo quy trình của tổ chức quản lý tiêu chuẩn, nhưng việc chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng vẫn phải đáp ứng các điều kiện và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận.
Việc quy định đồng thời ba khuôn khổ giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia.
Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định là trao đổi quốc tế phải ưu tiên thực hiện NDC của Việt Nam và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải theo điều ước, cam kết quốc tế.
Hoạt động trao đổi phải tuân thủ Thỏa thuận Paris; hỗ trợ chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bảo đảm lợi ích quốc gia và đóng góp cho phát triển bền vững tại địa phương.
Mọi hoạt động trao đổi giữa Việt Nam với đối tác quốc tế phải được ghi nhận, công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia. Đây là cơ sở theo dõi nguồn gốc, tình trạng và mục đích sử dụng tín chỉ, qua đó hạn chế tính hai lần và tăng cường minh bạch.
Đối với lượng được chuyển giao có điều chỉnh tương ứng, Việt Nam phải điều chỉnh kết quả kiểm kê phát thải khí nhà kính quốc gia. Lượng giảm phát thải đã chuyển giao không tiếp tục được tính cho NDC của Việt Nam mà được sử dụng cho NDC hoặc mục tiêu giảm nhẹ khác của bên nhận. Vì vậy, việc chấp thuận chuyển giao cần cân đối giữa huy động nguồn lực quốc tế với yêu cầu bảo đảm khả năng thực hiện mục tiêu khí hậu của Việt Nam.
Nghị định phân loại các biện pháp, hoạt động giảm phát thải được chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng thành hai danh mục.
Thứ nhất, gồm các biện pháp, hoạt động được ưu tiên chuyển giao. Đây chủ yếu là những giải pháp sử dụng công nghệ mới, tiên tiến hoặc cần nguồn lực đầu tư lớn. Với các dự án thuộc danh mục này, tỷ lệ chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng tối đa 90% lượng kết quả giảm nhẹ phát thải hoặc tín chỉ carbon được cấp trong một giai đoạn tạo tín chỉ.
Thứ hai, gồm các biện pháp, hoạt động được khuyến khích chuyển giao. Tỷ lệ chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng tối đa với các dự án thuộc danh mục này là 50%.
Trường hợp chuyển giao quốc tế không thực hiện điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa là 90% với tất cả chương trình, dự án. Phần kết quả giảm nhẹ phát thải hoặc tín chỉ còn lại sau khi chuyển giao quốc tế được phép sử dụng để trao đổi trong nước.
Việc phân loại và quy định tỷ lệ chuyển giao phản ánh cách tiếp cận thận trọng của Việt Nam.
Các công nghệ mới, chi phí cao, cần sự hỗ trợ quốc tế được tạo điều kiện chuyển giao với tỷ lệ cao hơn, trong khi một phần kết quả từ các biện pháp có khả năng đóng góp trực tiếp cho NDC được giữ lại để phục vụ nhu cầu trong nước.
Đối với dự án thực hiện trong khuôn khổ Thỏa thuận Điều 6.2, quy trình quản lý theo các bước từ đăng ký ý tưởng, chấp thuận đăng ký dự án, đo đạc và thẩm định kết quả, cấp hoặc công nhận kết quả giảm nhẹ phát thải đến chấp thuận chuyển giao quốc tế.
Trước hết, cơ quan, tổ chức có nhu cầu thực hiện dự án gửi hồ sơ đăng ký ý tưởng đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ý tưởng dự án được xem xét trên cơ sở sự phù hợp với danh mục biện pháp, hoạt động giảm phát thải được phép chuyển giao quốc tế, cũng như chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của ngành, lĩnh vực và địa phương.
Khi ý tưởng được chấp thuận, tổ chức hoàn thiện hồ sơ đề nghị đăng ký dự án gồm tài liệu thiết kế và báo cáo thẩm định theo tiêu chuẩn carbon áp dụng trong Thỏa thuận Điều 6.2. Sau khi dự án được đăng ký, các cơ quan, tổ chức tham gia có trách nhiệm đo đạc, báo cáo kết quả giảm phát thải theo tiêu chuẩn được áp dụng. Kết quả phải được thẩm định bởi đơn vị được tổ chức quản lý tiêu chuẩn hoặc Thỏa thuận Điều 6.2 công nhận.
Trên cơ sở kết quả giảm nhẹ phát thải hoặc tín chỉ carbon đã được cấp, công nhận và ghi nhận trên Hệ thống đăng ký quốc gia, tổ chức đại diện có thể đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp văn bản chấp thuận chuyển giao quốc tế.
Với Cơ chế Điều 6.4, việc đăng ký, sửa đổi, cấp tín chỉ và quản lý chương trình, dự án thực hiện theo quy định, hướng dẫn của Thỏa thuận Paris và Cơ quan giám sát cơ chế.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét sự phù hợp của dự án với NDC và đóng góp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia. Sau khi dự án được Cơ quan giám sát Cơ chế Điều 6.4 phê duyệt đăng ký, tổ chức đại diện có trách nhiệm báo cáo định kỳ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Tín chỉ carbon được cấp theo quy trình của Cơ chế Điều 6.4. Tuy nhiên, việc chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng vẫn phải được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, cấp văn bản chấp thuận. Cơ chế này bảo đảm sự kết nối giữa quy trình quản lý quốc tế và yêu cầu quản lý quốc gia, đặc biệt là kiểm soát tác động của chuyển giao tín chỉ carbon với khả năng thực hiện NDC của Việt Nam.
Với các tiêu chuẩn carbon độc lập, Nghị định không mặc nhiên công nhận mọi tiêu chuẩn hoặc phương pháp tạo tín chỉ đang được sử dụng trên thị trường quốc tế. Tiêu chuẩn được xem xét phải có hệ thống quản lý minh bạch và được quốc tế công nhận; phương pháp tạo tín chỉ phải rõ ràng, bảo đảm tính bổ sung, tính bền vững, có thể định lượng, kiểm chứng và không trùng lặp…
Việc đăng ký và cấp tín chỉ cho chương trình, dự án được thực hiện theo quy định của tổ chức quản lý tiêu chuẩn carbon độc lập. Tổ chức đại diện có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện dự án cho bộ quản lý lĩnh vực và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Đối với chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ xem xét các chương trình, dự án áp dụng phương pháp tạo tín chỉ thuộc danh mục công nhận của Việt Nam.
Theo quy định, các doanh nghiệp, tổ chức phát triển dự án cần chuẩn bị hồ sơ pháp lý, xác định rõ quyền đối với kết quả giảm phát thải, lựa chọn phương pháp tạo tín chỉ phù hợp, áp dụng đo đạc, báo cáo và thẩm định, đồng thời làm rõ phương án phân chia lợi ích giữa các bên tham gia và cộng đồng địa phương.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan thống nhất quản lý hoạt động trao đổi quốc tế; thay mặt Chính phủ cấp văn bản chấp thuận chuyển giao, thực hiện điều chỉnh tương ứng và vận hành Hệ thống đăng ký quốc gia. Các bộ quản lý lĩnh vực sẽ tham gia đánh giá chuyên môn, kỹ thuật…
Nghị định 112/2026/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý để Việt Nam chủ động tham gia thị trường carbon quốc tế, thu hút thêm nguồn lực cho chuyển đổi xanh và phát triển công nghệ phát thải thấp. Các quy định mới khẳng định nguyên tắc xuyên suốt: trao đổi tín chỉ carbon phải gắn với chất lượng giảm phát thải, khả năng thực hiện NDC, tính minh bạch và lợi ích lâu dài của quốc gia.
(*) Phó Trưởng phòng Thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-30-2026.htm




Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng Lê Trọng Yên được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường...
Điều hòa không khí đang trở thành một “lá chắn” quan trọng trước những đợt nắng nóng ngày càng khắc nghiệt, giúp cứu trung bình hơn 5.200 người mỗi năm chỉ riêng tại Mỹ. Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ, chính nhu cầu làm mát ngày càng tăng khiến tiêu thụ nhiều năng lượng hơn, phát thải nhiều khí nhà kính hơn và góp phần làm Trái đất nóng lên…
Từ chó robot tuần tra an toàn, camera AI nhận diện nguy cơ đến hệ thống hàn tự động và bản sao số 3D, công nghệ đang được đưa sâu vào công trường điện hạt nhân tại Trung Quốc. Không chỉ nâng cao an toàn và chất lượng xây dựng, quá trình số hóa này còn mở ra cách tiếp cận mới đối với phát triển năng lượng xanh, trong đó dữ liệu và tự động hóa trở thành một phần của hạ tầng quản trị…
Hạn hán kéo dài và những đợt nắng nóng cực đoan trong mùa hè đang gây thiệt hại nghiêm trọng cho hệ sinh thái sông, hồ và ngành nuôi trồng thủy sản tại nhiều quốc gia châu Âu. Hàng trăm tấn cá chết, hàng nghìn hecta ao nuôi bị khô cạn, trong khi doanh nghiệp phải cắt giảm sản lượng và tăng chi phí để duy trì hoạt động…
Một trong những mục tiêu đặt ra trong dự thảo Hồ sơ Đề án thí điểm phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ- Đáy, Ngũ Huyện Khê đó là quản lý, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm; đồng thời phấn đấu đến năm 2035 điều hòa, phân phối, phục hồi nguồn nước mặt với các giải pháp ưu tiên tự chảy…
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Giá nhà gần như liên tục tăng, thậm chí có nhiều “cơn sốt”. Nhiều nguyên nhân được chỉ ra nhưng căn bản nhất là từ sự mất cân bằng cung và cầu. Đưa giá nhà trở về với khả năng thanh toán, khả năng tiếp cận của đại bộ phận người dân là bài toán không hề đơn giản.