Ba khuôn khổ trao đổi quốc tế tín chỉ carbon

Nghị định 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon quy định, đồng thời ba khuôn khổ trao đổi giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia...

Việc phân loại và quy định tỷ lệ chuyển giao phản ánh cách tiếp cận thận trọng của Việt Nam. Ảnh: minh họa
Việc phân loại và quy định tỷ lệ chuyển giao phản ánh cách tiếp cận thận trọng của Việt Nam. Ảnh: minh họa

Chiều ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tổ chức tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”.

Tại tọa đàm, ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường Carbon, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã cập nhật quy định mới của nghị định về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải, cũng như cách tiếp cận của Việt Nam khi xây dựng các văn bản pháp lý liên quan đến việc tham gia trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.

Mới đây, ngày 01/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, có hiệu lực từ ngày 19/5/2026. Đây là khung pháp lý chuyên biệt đầu tiên của Việt Nam cho việc triển khai Điều 6 của Thỏa thuận Paris, được xây dựng trên nền tảng của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP và Nghị định số 119/2025/NĐ-CP.

Thỏa thuận Paris có quy định tại Điều 6 cho phép các quốc gia hợp tác trao đổi tín chỉ carbon để thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Trong Thỏa thuận Paris có khái niệm liên quan đến điều chỉnh tương ứng, được hiểu như một khái niệm hạch toán.  Ví dụ Việt Nam bán tín chỉ carbon cho đối tác quốc tế, thì phải hạch toán lượng tín chỉ đó, không được tính vào NDC. Để ghi nhận việc điều chỉnh tương ứng này, Việt Nam phải ban hành các văn bản chấp thuận cho việc chuyển giao quốc tế.

KHUÔN KHỔ TRAO ĐỔI TÍN CHỈ CARBON GIỮA VIỆT NAM VỚI ĐỐI TÁC QUỐC TẾ

Theo đại diện Cục Biến đổi khí hậu, việc xây dựng Nghị định 112 không chỉ để thực hiện các quy định của Thỏa thuận Paris, mà còn nâng cao vai trò quản lý, đảm bảo việc trao đổi tín chỉ carbon giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế vẫn đảm bảo tính khả thi trong việc thực hiện NDC của Việt Nam.

Ông Công cho biết Nghị định 112 điều chỉnh hoạt động trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế theo ba khuôn khổ chính.

Ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường Carbon, Cục Biến đổi khí hậu nhấn mạnh Nghị định 112 điều chỉnh hoạt động trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế theo ba khuôn khổ chính. Ảnh: Việt Dũng
Ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường Carbon, Cục Biến đổi khí hậu nhấn mạnh Nghị định 112 điều chỉnh hoạt động trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế theo ba khuôn khổ chính. Ảnh: Việt Dũng

Thứ nhất, hợp tác theo khoản 2 Điều 6 Thỏa thuận Paris (Cơ chế Điều 6.2). Theo cơ chế này, Việt Nam có thể ký kết thỏa thuận song phương hoặc đa phương với một quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris hoặc một tổ chức quốc tế để thiết lập khuôn khổ hợp tác chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.

Các thỏa thuận Điều 6.2 sẽ quy định nguyên tắc hợp tác; đăng ký dự án; công nhận kết quả giảm phát thải và cấp tín chỉ; tiêu chuẩn hoặc phương pháp tạo tín chỉ được áp dụng; thủ tục chấp thuận chuyển giao quốc tế.

Theo Nghị định 112, trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon là hoạt động trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon giữa Việt Nam và đối tác quốc tế được thực hiện trong khuôn khổ Thỏa thuận hợp tác thực hiện theo khoản 2 Điều 6 Thỏa thuận Paris (Điều 6.2) hoặc theo cơ chế quy định tại khoản 4 Điều 6 Thỏa thuận Paris (Điều 6.4) hoặc ngoài khuôn khổ Thỏa thuận Điều 6.2 và Cơ chế Điều 6.4.

Thứ hai, Cơ chế Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris. Đây là cơ chế trao đổi và bù trừ tín chỉ carbon, được vận hành dưới sự giám sát, quản lý tập trung của Ban Thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và là cơ chế kế thừa Cơ chế Phát triển sạch (CDM). Việc đăng ký dự án, phê duyệt phương pháp luận, cấp tín chỉ và quản lý tín chỉ được thực hiện theo các quy định, hướng dẫn quốc tế của Cơ chế Điều 6.4.

Thứ ba, trao đổi tín chỉ từ các chương trình, dự án áp dụng tiêu chuẩn carbon độc lập. Đây là các tiêu chuẩn do tổ chức quốc tế ban hành và quản lý. Các dự án có thể được đăng ký và cấp tín chỉ theo quy trình của tổ chức quản lý tiêu chuẩn, nhưng việc chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng vẫn phải đáp ứng các điều kiện và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận.

QUY ĐỊNH TỶ LỆ CHUYỂN GIAO QUỐC TẾ

Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định là trao đổi quốc tế phải ưu tiên thực hiện NDC của Việt Nam và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải theo điều ước, cam kết quốc tế.

Nghị định phân loại các biện pháp, hoạt động giảm phát thải được chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng thành hai danh mục.

Thứ nhất, các biện pháp, hoạt động được ưu tiên chuyển giao. Đây chủ yếu là những giải pháp sử dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến hoặc cần nguồn lực đầu tư lớn. Với các dự án thuộc danh mục này, tỷ lệ chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng tối đa là 90% lượng kết quả giảm nhẹ phát thải hoặc tín chỉ carbon được cấp trong một giai đoạn tạo tín chỉ.

Thứ hai, các biện pháp, hoạt động được khuyến khích chuyển giao. Tỷ lệ chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng tối đa với các dự án thuộc danh mục này là 50%.

Trường hợp chuyển giao quốc tế không thực hiện điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa là 90% với tất cả chương trình, dự án. Phần kết quả giảm nhẹ phát thải hoặc tín chỉ còn lại sau khi chuyển giao quốc tế được phép sử dụng để trao đổi trong nước.

Việc phân loại và quy định tỷ lệ chuyển giao phản ánh cách tiếp cận thận trọng của Việt Nam. Các công nghệ mới, chi phí cao, cần sự hỗ trợ quốc tế được tạo điều kiện chuyển giao với tỷ lệ cao hơn, trong khi một phần kết quả từ các biện pháp có khả năng đóng góp trực tiếp cho NDC được giữ lại để phục vụ nhu cầu trong nước.

Thị trường tín chỉ carbon cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển mới

GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...

[Phóng sự ảnh]: Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon

Chiều ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tổ chức tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”...

Mở khóa kênh dẫn vốn mới cho mục tiêu giảm phát thải của Việt Nam

Trong nỗ lực hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Việt Nam đang tìm kiếm các kênh huy động tài chính hiệu quả cho giảm phát thải. Trong đó, cơ chế chuyển giao kết quả giảm phát thải được quốc tế công nhận (ITMO) theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris được kỳ vọng trở thành “đòn bẩy”, giúp kết nối nguồn vốn quốc tế và khu vực tư nhân với các dự án khí hậu trong nước...

Thị trường carbon đang trở thành không gian hợp tác, cạnh tranh mới của kinh tế toàn cầu

Thị trường carbon không chỉ là một công cụ chính sách, mà đang trở thành một không gian hợp tác và cạnh tranh mới của nền kinh tế toàn cầu. Việc tham gia sớm, chủ động và đúng hướng sẽ giúp Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp không chỉ thực hiện tốt các cam kết giảm phát thải mà còn tận dụng được các cơ hội phát triển mới trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh...

Các địa phương bước vào cuộc đua thu hút FDI xanh

Sau gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới khi trọng tâm không còn là thu hút càng nhiều vốn càng tốt, mà là lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và đáp ứng các tiêu chí phát triển bền vững...

Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy