Hiện nay vay nước ngoài ngắn, trung dài hạn của khu vực doanh nghiệp chiếm khoảng 70-80% tổng dư nợ vay nước ngoài tự vay tự trả của cả nền kinh tế.
Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân đối với Dự thảo Thông tư quy định về điều kiện vay nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh.
Theo Ngân hàng Nhà nước, thời gian gần đây, với mong muốn tận dụng mặt bằng lãi suất thấp trên thị trường quốc tế, vay nước ngoài của tổ chức tín dụng và doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng cùng có xu hướng gia tăng.
Điều này dẫn đến nguy cơ không đảm bảo chỉ tiêu về tổng hạn mức rút vốn ròng trung dài hạn và mức tăng dư nợ vay ngắn hạn nước ngoài được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hàng năm.
Và để kiểm soát mức vay nước ngoài tự vay tự trả đảm bảo hạn mức hàng năm nhằm duy trì các ngưỡng nợ an toàn, Thủ tướng Chính phủ đã giao Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu xây dựng phương án quy định điều kiện vay đối với hoạt động vay, trả nợ nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh.
Hiện Thông tư đang được Ngân hàng Nhà nước xây dựng theo hướng, doanh nghiệp được vay nước ngoài ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn phát sinh trong vòng 12 tháng kể từ thời điểm ký thỏa thuận vay nước ngoài.
Tuy nhiên, các khoản vay trên không bao gồm các khoản nợ phát sinh từ hợp đồng vay với người cư trú; các khoản phải trả phát sinh từ mua bán chứng khoán kinh doanh; mua phần vốn góp, cổ phần của đơn vị khác; mua bất động sản đầu tư và nhận chuyển nhượng dự án.
Hiện nay vay nước ngoài ngắn, trung dài hạn của khu vực doanh nghiệp chiếm khoảng 70-80% tổng dư nợ vay nước ngoài tự vay tự trả của cả nền kinh tế.
Giải thích cho quy định này, Ngân hàng Nhà nước cho biết, việc tăng trưởng nóng, ồ ạt của thị trường chứng khoán và kinh doanh bất động sản tiềm ẩn rủi ro lớn vì có thể tạo ra tình trạng vốn ảo, bong bóng tài sản, là mầm mống của những bất ổn tài chính vĩ mô.
Do đó, trong bối cảnh dòng vốn vay nước ngoài ngắn hạn cần được quản lý chặt chẽ hơn nữa để hạn chế các nguy cơ đảo chiều, cần hạn chế việc doanh nghiệp vay nước ngoài ngắn hạn cho các mục đích tiềm ẩn rủi ro bong bóng giá như chứng khoán, bất động sản.
Theo nhà điều hành chính sách tiền tệ, định hướng quản lý trên nhất quán với quan điểm đánh giá rủi ro qua đó cần quản lý chặt chẽ đối với các lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản trong hoạt động cấp tín dụng trong nước.
Ngoài định hướng chặn mục đích vay nước ngoài ngắn hạn đầu tư vào chứng khoán và bất động sản nói trên, Ngân hàng Nhà nước cũng dự kiến không cho phép sử dụng vốn vay ngắn hạn để nhận chuyển nhượng dự án đầu tư và mua cổ phần, mua phần vốn góp do việc thực hiện dự án hoặc mua cổ phần, mua vốn góp tại doanh nghiệp nhằm thâu tóm doanh nghiệp, mua bán sáp nhập để quản lý, phát triển doanh nghiệp về lâu dài là hoạt động mang tính dài hạn.
Bởi lẽ, nếu vay vốn nước ngoài ngắn hạn để thanh toán cho khoản nợ phát sinh từ các mục đích sử dụng vốn trung dài hạn nêu trên sẽ tạo ra rủi ro thanh khoản và đi ngược lại bản chất của dòng vốn ngắn hạn chỉ nhằm hỗ trợ thiếu hụt thanh khoản tạm thời.
Bên cạnh đó, trường hợp bên đi vay nhận chuyển nhượng dự án hoặc mua cổ phần, mua phần vốn góp của doanh nghiệp khác nhưng không nhằm mục tiêu phát triển dự án hoặc quản lý doanh nghiệp và tiếp tục chuyển nhượng dự án, bán cổ phần cho bên thứ ba thì hoạt động mua đi bán lại này cũng có thể tạo bong bóng giá, không tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế và cần bị hạn chế.
Nhìn chung, đối với cả hai trường hợp chuyển nhượng dự án và mua cổ phần, mua phần vốn góp nêu trên đều tiềm ẩn rủi ro cao và quan điểm của Ngân hàng Nhà nước là không nên cho phép sử dụng vốn vay ngắn hạn nước ngoài.
"Định hướng kiểm soát chặt chẽ hoạt động vay trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp, việc quy định doanh nghiệp không được vay nước ngoài ngắn hạn cho các mục đích tiềm ẩn rủi ro cao nêu trên là cần thiết; một mặt yêu cầu chính các doanh nghiệp này quản trị rủi ro tốt hơn trong hoạt động, mặt khác hỗ trợ việc ưu tiên tập trung nguồn vốn vay nước ngoài cho các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế", Ngân hàng Nhà nước nêu quan điểm.
Một thao tác quét mã QR kéo theo cả chuỗi xử lý giữa người dùng, điểm bán, ngân hàng, trung gian thanh toán và các nền tảng công nghệ, đặc biệt khi giao dịch vượt qua biên giới. Điều này mở ra những rủi ro về gian lận, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ từ toàn bộ hệ thống…
Chốt tuần 21-26/9, mức giảm giá vàng miếng SJC dao động phổ biến là 2,2 triệu đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán. Trong khi đó, diễn biến vàng nhẫn “4 số 9” không đồng đều giữa các doanh nghiệp, với mức tăng giảm khác nhau tuỳ từng thương hiệu…
Nhằm mang đến cho khách hàng thân thiết một giải pháp tài chính số an toàn, tiện lợi và hoàn toàn số hóa, Công ty Tài chính Tổng hợp Cổ phần Tín Việt (VietCredit) chính thức hợp tác cùng Công ty Cổ phần Đầu tư Điện Máy Xanh (ĐMX) và Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) ra mắt thẻ tín dụng nội địa TINCard 3 trong 1, cho phép khách hàng mở thẻ, quản lý và sử dụng thẻ ngay trong ứng dụng Quà Tặng VIP của ĐMX.
Quỹ vàng khổng lồ SPDR Gold Trust cũng có một tuần bán nhiều hơn mua...
Từ sân bay, khách sạn, nhà hàng đến các điểm mua sắm, thanh toán QR xuyên biên giới đang mở rộng thêm những điểm chạm trong hành trình của du khách quốc tế. Khi người dùng có thể thanh toán bằng ứng dụng quen thuộc, các điểm bán trong nước có thêm cơ hội tiếp cận và giữ lại dòng chi tiêu từ thị trường khách quốc tế…
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cảnh báo hơn 5,1 triệu lượt khách hàng; gần 1,7 triệu lượt đã tạm dừng hoặc hủy giao dịch sau cảnh báo, với tổng giá trị trên 5,7 nghìn tỷ đồng.