Mục tiêu của quy hoạch nhằm xây dựng
phát triển Hải Phòng trở thành đô thị biển hiện đại, thông minh, có sức hút lan
tỏa, khả năng cạnh tranh quốc tế; phát triển cân bằng giữa kinh tế - xã hội -
môi trường. Đồng thời, hướng tới hình thành mô hình quản trị phát triển đô thị
bền vững có bản sắc, bảo vệ tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo phê duyệt, phạm vi quy
hoạch là toàn bộ địa giới hành chính của thành phố Hải Phòng sau sáp nhập và
khu vực không gian biển có liên quan theo quy định của pháp luật hiện hành, bao
gồm 114 đơn vị hành chính cấp xã. Tổng diện tích tự nhiên lập quy hoạch khoảng
3.194,72 km2, bao gồm phần đất liền, khu vực đảo ven bờ và biển đảo.
Về quy mô dân số, dự kiến đến năm
2040, dân số toàn thành phố là 6,50 - 6,80 triệu người; đến năm 2050 là khoảng
8,50 - 9,50 triệu người.
Đối với quy mô đất đai, dự báo đất
xây dựng toàn đô thị (chưa bao gồm đất dành cho công trình hạ tầng đầu mối quy
mô lớn) đến năm 2040 là 100.000 - 120.000ha; đến năm 2050 là 160.000 - 180.000ha.
Quy hoạch đặt ra 8 yêu cầu trọng tâm. Thứ nhất, nghiên cứu phát triển thành phố Hải Phòng trong mối liên
kết chặt chẽ với các tỉnh, thành phố trong vùng động lực phía Bắc, vùng đồng bằng
sông Hồng và vùng Thủ đô Hà Nội; làm rõ vai trò của Hải Phòng là cực tăng trưởng,
trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ giao thương quốc tế của khu vực.
Thứ hai, rà soát, đánh giá việc thực hiện các quy hoạch đã được phê
duyệt; xác định những nội dung kế thừa, tồn tại, hạn chế và những vấn đề chưa
phù hợp trong bối cảnh phát triển mới và sau sáp nhập đơn vị hành chính; cập nhật,
tích hợp các chủ trương, định hướng của quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng
và quy hoạch ngành có liên quan.
Thứ ba, nghiên cứu định hướng phát triển khung hạ tầng giao thông
và đầu mối vận tải đa phương thức tại các khu vực động lực kinh tế, gắn với hệ
thống cảng biển, cảng hàng không, đường sắt quốc gia và mạng lưới giao thông thủy.
Làm rõ vai trò của tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, tuyến đường sắt
Đông Anh - Gia Bình - Hạ Long; nghiên cứu mạng lưới đường sắt đô thị, mô hình
phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) tại khu vực trọng điểm; bảo
đảm kết nối đồng bộ với các tỉnh trong vùng Thủ đô Hà Nội và vùng Đồng bằng
sông Hồng theo từng giai đoạn.
Thứ tư, nghiên cứu định hướng phát triển không gian đối với khu vực
trọng điểm của thành phố. Trong đó, tập trung tái thiết, chỉnh trang khu đô thị
cũ và khu vực trung tâm lịch sử, bao gồm: khu phố cũ phía Đông (thành phố Hải
Phòng cũ), khu phố cũ phía Tây (thành phố Hải Dương cũ); nghiên cứu tổ chức
không gian và trục kết nối các cụm phường với khu vực trung tâm hành chính
thành phố.
Bên cạnh đó, định hướng quy hoạch
khung tự nhiên và thiết kế đô thị - cảnh quan đối với không gian mặt nước ven
sông, ven biển; xác định rõ khu vực bảo tồn sinh thái, vùng đệm chuyển tiếp và
khu vực phát triển có kiểm soát, đặc biệt là vùng núi Chí Linh - Côn Sơn, quần
đảo Cát Bà, vùng trũng ven biển và hệ thống rừng ngập mặn; định hướng trục
không gian đô thị hai bên sông Cấm.
Bảo tồn, phát huy các giá trị kiến
trúc đô thị; nghiên cứu mối quan hệ giữa không gian biển với hệ thống cảng biển
(Lạch Huyện, Nam Đồ Sơn), không gian du lịch và các khu vực bảo tồn sinh thái
biển.
Thứ năm, nghiên cứu định hướng phát triển mạng lưới khu, cụm công
nghiệp và dịch vụ logistics theo hướng hiện đại, chuyên sâu, tích hợp với hạ tầng
giao thông và các đầu mối vận tải đa phương thức; bảo đảm hiệu quả sử dụng đất,
kiểm soát môi trường và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển.
Thứ sáu, đề xuất các mô hình phát triển nông nghiệp tập trung, nông
nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao gắn với vùng sản xuất nông nghiệp đặc sản;
định hướng tổ chức không gian cư trú nông thôn phù hợp với quá trình đô thị
hóa, bảo đảm sinh kế bền vững và gìn giữ bản sắc nông thôn.
Thứ bảy, định hướng phát triển không gian ngầm và hạ tầng kỹ thuật
theo quy định pháp luật; giải quyết những tồn tại, bất cập về giao thông chồng
chéo giữa giao thông đối nội và đối ngoại; nghiên cứu bố trí bến xe đối ngoại,
tổ hợp đa chức năng gắn với các đầu mối giao thông và logistics; hoàn thiện hệ
thống hạ tầng kỹ thuật khung còn thiếu như nhà máy nước, cơ sở xử lý rác thải,
nước thải, nhà tang lễ, nghĩa trang.
Ngoài ra, thống nhất, đồng bộ dữ
liệu dự báo và định hướng phát triển; bảo đảm liên thông với Quy hoạch thành phố
Hải Phòng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và các quy hoạch ngành,
quy hoạch chuyên ngành đang triển khai.
Thứ tám, đề xuất giải pháp phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế - xã
hội đồng bộ, hiện đại, chất lượng cao; giải quyết vấn đề môi trường đô thị và
nông thôn, hướng tới phát triển bền vững…