
Việt Nam nằm trong nhóm ba quốc gia có thặng dư thương mại lớn nhất với Mỹ năm 2024, chỉ xếp sau Trung Quốc và Mexico.
Về cơ cấu giá trị xuất khẩu sang thị trường Mỹ theo nhóm doanh nghiệp, có thể thấy sự chênh lệch lớn giữa khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa trong suốt những năm gần đây. Doanh nghiệp nội địa chỉ chiếm gần 22% trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đi Mỹ trong năm 2024, theo dữ liệu phân tích từ FiinGroup.
Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, đứng đầu là Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan đang chiếm ưu thế lớn trong xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Bản thân các doanh nghiệp FDI gốc Mỹ đã xuất khẩu đi Mỹ khoảng hơn 6,6 tỷ USD, tương đương 5,5% trong năm 2024. Tỷ trọng đóng góp của các doanh nghiệp FDI Singapore giảm đáng kể sau khi điều chỉnh theo quốc tịch chủ sở hữu cuối cùng, từ 18,45% giảm xuống còn 3,2%.
Các doanh nghiệp nội địa chiếm tỷ trọng chi phối trong duy nhất ngành hàng thủy sản. Các ngành đòi hỏi ít về mặt công nghệ như dệt may, túi xách, gỗ, giày dép vẫn chia sẻ tỷ trọng lớn với doanh nghiệp FDI. Hàng điện tử, máy móc đòi hỏi đầu tư lớn về mặt công nghệ và năng lực sản xuất đều chi phối bởi các doanh nghiệp FDI.
Doanh nghiệp FDI Hàn Quốc và Đài Loan chủ yếu tập trung vào xuất khẩu sản phẩm điện tử, lần lượt chiếm 60% và 35% tổng giá trị. Với doanh nghiệp Mỹ, máy móc thiết bị và hàng điện tử chiếm tổng tỷ trọng hơn 85%. Tỷ trọng mặt hàng chủ lực của ba quốc gia có sự khác biệt lớn, nhưng đều tập trung vào các sản phẩm yêu cầu kỹ thuật sản xuất cao, cho thấy năng lực chuyên sâu của khối FDI tại Việt Nam.
Doanh nghiệp FDI Trung Quốc tại Việt Nam tập trung xuất khẩu sản phẩm điện tử, máy móc tương tự xu hướng chung của khối FDI. Bên cạnh đó là các mặt hàng như gỗ, dệt may, da giày cạnh tranh với các doanh nghiệp xuất khẩu nội địa.
Ngoài ra, các doanh nghiệp trong nhóm này nhập khẩu từ Trung Quốc 2,7 tỷ USD, chỉ tương đương 10,8% giá trị xuất khẩu sang Mỹ. Phần lớn các mặt hàng này là để phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu, đặc biệt là hàng điện tử và máy móc.
Ngành dệt may, gỗ và thủy sản là ba ngành hàng chủ lực, với tổng tỷ trọng xuất khẩu sang Mỹ chiếm khoảng 46% giá trị xuất khẩu Mỹ của doanh nghiệp nội địa. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đang đối mặt với rủi ro lớn từ thuế quan của Mỹ, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xuất khẩu và duy trì hoạt động doanh nghiệp.
Ngành dệt may xuất khẩu sang Mỹ có 1525 doanh nghiệp nội địa, sử dụng 1,4 triệu lao động và có dư nợ tín dụng khoảng 60 nghìn tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp dao động từ 0,59 % đến 34,84% (trung bình 13,37%), nhưng biên lợi nhuận ròng chỉ từ –30,96% đến 4,81% (trung bình –3,06%). Điểm rủi ro trung bình các doanh nghiệp ở mức FG-7 theo thang phân loại FiinGroup (18 mức), tương ứng xác suất rủi ro là 2,64%.
Ngành thủy sản xuất khẩu sang Mỹ có 323 doanh nghiệp nội địa, sử dụng 322 nghìn lao động và có dư nợ tín dụng khoảng 49 nghìn tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp dao động từ 3,81% đến 27,49% (trung bình 10,9%), nhưng biên lợi nhuận ròng chỉ từ –9,16% đến 4,34% (trung bình –0,14%). Xác suất rủi ro là 1,90%.
Ngành gỗ xuất khẩu sang Mỹ có 1736 doanh nghiệp nội địa, sử dụng 416 nghìn lao động và có dư nợ tín dụng khoảng 59 nghìn tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp dao động từ 2,78% đến 26% (trung bình 11,86%), nhưng biên lợi nhuận ròng chỉ từ –14,63% đến 3,37% (trung bình –1,10%). Xác suất rủi ro là 3,68%.
Theo FiinGroup, với điều kiện sức khỏe tài chính hạn chế và mức độ tác động lớn về mặt kinh tế xã hội của nhóm doanh nghiệp này, đòi hỏi phải có các chính sách hỗ trợ kịp thời.
Doanh nghiệp FDI đến từ các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan và bao gồm cả Mỹ, chiếm tỷ trọng áp đảo trong tỷ trọng xuất khẩu trong suốt các năm qua, cần chung tay đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong đàm phán, chia sẻ khó khăn, và duy trì sản xuất để bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế.
Doanh nghiệp nội địa, đặc biệt trong các ngành như dệt may, thủy sản, và gỗ sẽ chịu tác động đáng kể; đây cũng là nhóm sử dụng nhiều lao động nên cần được chính phủ hỗ trợ kịp thời thông qua các gói tín dụng ưu đãi, chương trình thương mại quốc tế và chính sách an sinh cho người lao động.
Đối với tổ chức tín dụng, cần điều chỉnh chính sách tín dụng, tăng cường giám sát rủi ro danh mục, và ứng dụng các công cụ phân tích chuyên sâu, kịp thời để kiểm soát rủi ro đối với các ngành bị ảnh hưởng lớn.
Giá vàng thế giới tăng trở lại trong phiên giao dịch ngày thứ Ba (14/7), giữ vững mốc 4.000 USD/oz, sau khi báo cáo thống kê của Mỹ cho thấy lạm phát xuống thang...
Một số công ty chứng khoán đã công bố kết quả kinh doanh. Điểm đáng chú ý là dư nợ ký quỹ trong quý 2/2026 tiếp tục tăng so với quý 1. Điều này tạo áp lực tâm lý lên thị trường khi tỷ lệ ký quỹ đang ở mức cao...
Nhà đầu tư tổ chức trong nước hôm nay mua ròng 358,3 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh, khối này mua ròng 168,8 tỷ đồng.
Định giá P/E dự phóng năm 2026 ở mức 11,7x nhưng nhiều ngành đang được giao dịch ở mức thấp hơn đáng kể. Đây cũng là vùng thấp nhất về định giá, tương đương các đợt sụt giảm mạnh từng xuất hiện vào các năm 2020, 2022 và 2025...
Thêm một nhịp “dúi” chỉ số nữa xuất hiện sáng nay, thậm chí VNI có lúc xuống dưới đáy tháng 6/2026. Thanh khoản thấp ở nhịp giảm là một tín hiệu tốt, cho thấy đợt bán dữ dội nhất đã vãn.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.