San hô ở các vùng biển Đông Á trụ vững giữa suy giảm toàn cầu

Các rạn san hô trên thế giới đang suy giảm do sóng nhiệt biển ngày càng thường xuyên. Tuy nhiên, một báo cáo mới cho thấy các rạn san hô ở vùng biển Đông Á đang đi ngược xu hướng này khi độ phủ san hô duy trì tương đối ổn định trong 4 thập kỷ qua…

San hô tại Pulau Hantu, Singapore, năm 2021. Những loài san hô có thể phát triển trong môi trường khắc nghiệt, như các vùng nước đục quanh Singapore, thường có khả năng chống chịu cao hơn trước các đợt sóng nhiệt biển. Ảnh: Huang Danwei
San hô tại Pulau Hantu, Singapore, năm 2021. Những loài san hô có thể phát triển trong môi trường khắc nghiệt, như các vùng nước đục quanh Singapore, thường có khả năng chống chịu cao hơn trước các đợt sóng nhiệt biển. Ảnh: Huang Danwei

Các rạn san hô trên toàn thế giới đang phải đối mặt với sức ép ngày càng lớn khi các đợt sóng nhiệt biển xuất hiện thường xuyên hơn, làm gia tăng hiện tượng tẩy trắng và khiến nhiều khu vực rạn san hô suy giảm.

Tuy nhiên, báo cáo mới của Mạng lưới Giám sát Rạn san hô Toàn cầu (Global Coral Reef Monitoring Network) cho thấy một xu hướng đáng chú ý tại vùng biển Đông Á. Khu vực này bao gồm Singapore, Malaysia, Indonesia và nhiều khu vực khác ở Đông Nam Á, với độ phủ san hô được duy trì ổn định trong 4 thập kỷ qua.

Báo cáo công bố ngày 31/8, do một mạng lưới quốc tế gồm các nhà khoa học, nhà quản lý và tổ chức thực hiện, cũng không ghi nhận sự gia tăng của tảo vĩ mô (macroalgae), hay rong biển, tại khu vực này.

Đây được xem là một dấu hiệu tích cực khác đối với sức khỏe của các rạn san hô ở vùng biển Đông Á, bởi tảo vĩ mô có thể cản trở quá trình phục hồi của rạn san hô khi cạnh tranh không gian sinh trưởng với san hô.

Vùng biển Đông Á là nơi có Tam giác San hô (Coral Triangle), một trong những điểm nóng đa dạng sinh học biển phong phú nhất thế giới, trải rộng quanh Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea, Philippines, Quần đảo Solomon và Timor-Leste. Khoảng 30% diện tích rạn san hô của thế giới nằm tại khu vực này.

KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU TRƯỚC NHIỆT ĐỘ CAO

Các chuyên gia cho rằng những phát hiện trên cho thấy các rạn san hô trong khu vực có thể sở hữu những đặc điểm nhất định giúp chúng có khả năng chống chịu tốt hơn trước nhiệt độ cao.

Nhà sinh vật học biển Huang Danwei, Phó trưởng bộ phận Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Lee Kong Chian thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS), cho biết những loài san hô có thể phát triển ngay cả trong môi trường khắc nghiệt, chẳng hạn san hô sống trong vùng nước đục quanh Singapore, thường có khả năng chịu đựng các đợt sóng nhiệt biển tốt hơn.

San hô tại Pulau Satumu, Singapore, năm 2019. San hô hỗ trợ khoảng một phần tư các loài sinh vật biển, trong đó có hàng nghìn loài cá. Ảnh: Huang Danwei
San hô tại Pulau Satumu, Singapore, năm 2019. San hô hỗ trợ khoảng một phần tư các loài sinh vật biển, trong đó có hàng nghìn loài cá. Ảnh: Huang Danwei

Những loài san hô này có thể tạo ra thế hệ con có khả năng thích nghi tự nhiên với nhiệt độ mặt nước biển cao hơn. Khi những san hô non này phát tán và định cư tại các rạn san hô lân cận, chúng có thể giúp các rạn san hô này tăng khả năng chống chịu với các đợt sóng nhiệt, ông Huang cho biết.

Ông Huang và bà Karenne Tun, Giám đốc Nhóm Trung tâm Đa dạng sinh học quốc gia thuộc Cơ quan Công viên quốc gia Singapore (NParks), là hai trong số các tác giả tại Singapore đóng góp cho báo cáo toàn cầu.

Có tên “Tình trạng các rạn san hô trên thế giới: 2025” (Status of Coral Reefs of the World: 2025), báo cáo dài 296 trang được xây dựng dựa trên hơn 40 năm dữ liệu từ 36.886 địa điểm tại 124 quốc gia và vùng lãnh thổ. Báo cáo tương tự gần đây nhất được công bố vào năm 2021.

San hô hỗ trợ khoảng một phần tư các loài sinh vật biển, trong đó có hàng nghìn loài cá. Khoảng 1 tỷ người phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào các rạn san hô thông qua những dịch vụ hệ sinh thái mà chúng cung cấp.

Tuy nhiên, báo cáo cảnh báo các rạn san hô đang phải trải qua những đợt tẩy trắng thường xuyên đến mức chúng không còn đủ thời gian phục hồi trước khi đợt tiếp theo xảy ra.

Hiện tượng tẩy trắng san hô xảy ra khi san hô - vốn có màu sắc rực rỡ nhờ các loại tảo siêu nhỏ sống trong mô của chúng - bị căng thẳng do nhiệt độ nước biển tăng và đẩy các loại tảo này ra ngoài, khiến san hô chuyển sang màu trắng xám.

Các loại tảo này cung cấp chất dinh dưỡng cho san hô. Vì vậy, khi xảy ra tẩy trắng, san hô trở nên dễ mắc bệnh hơn. Nếu hiện tượng tẩy trắng kéo dài, san hô có thể chết do bị mất đi một nguồn dinh dưỡng quan trọng.

CÁC RẠN SAN HÔ ĐANG MẤT DẦN THỜI GIAN PHỤC HỒI

Các đợt tẩy trắng san hô trên quy mô toàn cầu xảy ra vào các năm 1998, 2010, 2016 và 2024, trong đó Singapore cũng trải qua hiện tượng tẩy trắng trên diện rộng vào những năm này. Cả 4 đợt tẩy trắng toàn cầu đều diễn ra sau các hiện tượng El Niño - một hiện tượng khí hậu làm nhiệt độ mặt nước biển tăng và khiến nhiệt độ toàn cầu tăng lên.

San hô tại Bohol, Philippines, năm 2015. Các đợt tẩy trắng san hô toàn cầu xảy ra vào các năm 1998, 2010, 2016 và 2024. Ảnh: Huang Danwei.
San hô tại Bohol, Philippines, năm 2015. Các đợt tẩy trắng san hô toàn cầu xảy ra vào các năm 1998, 2010, 2016 và 2024. Ảnh: Huang Danwei.

Các nhà khoa học cảnh báo một đợt tẩy trắng san hô khác có thể xảy ra vào năm 2026, trong bối cảnh thế giới đang chịu tác động của một đợt El Niño nghiêm trọng có thể kéo dài đến năm 2027.

Độ phủ san hô cứng là tỷ lệ diện tích môi trường sống ven biển được bao phủ bởi san hô cứng. Trong khi đó, độ phủ rạn san hô tại vùng biển Đông Á duy trì ổn định trong giai đoạn 1980-2009, với độ phủ san hô cứng trung bình khoảng 30%.

Con số này giảm xuống 27% sau đợt tẩy trắng năm 2010, nhưng đã phục hồi gần mức của năm 1980 trong giai đoạn 2010-2020.

Báo cáo cho thấy độ phủ san hô cứng trung bình trên toàn cầu đã giảm từ 30,2% năm 1980 xuống còn 27,3% vào năm 2024.

Tác giả chính của báo cáo, ông Manuel Gonzalez Rivero, cho biết khoảng thời gian giữa các đợt tẩy trắng trước đây từng kéo dài hàng chục năm, nhưng hiện nay trung bình chỉ còn 5-6 năm.

Chẳng hạn, trước đợt tẩy trắng toàn cầu năm 1998, đợt tẩy trắng hàng loạt trên diện rộng đầu tiên xảy ra trong thời kỳ El Niño 1982-1983, theo Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA).

Mặc dù báo cáo cho thấy các rạn san hô trong khu vực đã duy trì “sự ổn định đáng kể” về độ phủ san hô cứng trong 4 thập kỷ qua, ông Huang cho rằng tình trạng đại dương ấm lên do biến đổi khí hậu vẫn là mối đe dọa lớn nhất đối với các rạn san hô, kể cả ở vùng biển Đông Á.

VnEconomy

Tình trạng đại dương ấm lên do biến đổi khí hậu là mối đe dọa lớn nhất đối với các rạn san hô, kể cả ở vùng biển Đông Á.

Nhà sinh vật học biển Huang Danwei  Phó trưởng bộ phận Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Lee Kong Chian thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS)

Bên cạnh đó, các rạn san hô trong khu vực còn phải đối mặt với nhiều yếu tố gây áp lực khác có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng.

Nhà sinh vật học biển Huang Danwei cũng chỉ ra những mối đe dọa chính khác đối với các rạn san hô Đông Á bao gồm ô nhiễm chất dinh dưỡng khiến tảo vĩ mô phát triển quá mức và lấn át san hô, rác thải nhựa trên biển, đánh bắt quá mức, tình trạng bồi lắng và độ đục của nước gia tăng, phát triển ven biển và lấn biển.

SỰ ỔN ĐỊNH KHU VỰC CÓ THỂ CHE GIẤU BIẾN ĐỘNG CỤC BỘ

Bà Tun thuộc NParks cho rằng sự ổn định được ghi nhận ở các rạn san hô Đông Á cũng có thể xuất phát từ việc sự suy giảm ở một khu vực được bù đắp bởi mức độ gia tăng độ phủ san hô ở một khu vực khác.

Theo báo cáo, sự suy giảm tại Nam Java và Sunda cùng một số khu vực thuộc Tam giác San hô phía Bắc được bù đắp bằng sự gia tăng tại Tam giác San hô Trung tâm và Kuroshio.

Điều này cho thấy sự ổn định xét trên quy mô toàn khu vực có thể che giấu những khác biệt và mức độ dễ tổn thương đáng kể ở từng địa phương.

Báo cáo lưu ý rằng để xác định rõ những mô hình này cần duy trì việc thu thập dữ liệu nhất quán ở cấp địa phương.

Việc thu thập dữ liệu tại cấp địa phương cũng có thể giúp các nhà khoa học theo dõi những khía cạnh khác của sức khỏe rạn san hô, bên cạnh độ phủ san hô. Chẳng hạn, bà Tun lưu ý rằng dù độ phủ san hô có thể vẫn ổn định, thành phần các loài san hô trong một khu vực có thể thay đổi.

Những thay đổi trong cộng đồng san hô có thể ảnh hưởng đến cách các rạn san hô vận hành cũng như những dịch vụ hệ sinh thái mà chúng cung cấp, bà nói thêm.

Sự ổn định về độ phủ san hô tại vùng biển Đông Á là một tín hiệu tích cực trong bối cảnh các rạn san hô trên thế giới đang chịu sức ép ngày càng lớn. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng điều này không đồng nghĩa với việc khu vực đã thoát khỏi những rủi ro do biến đổi khí hậu và các hoạt động của con người.

Khi các đợt tẩy trắng ngày càng xảy ra gần nhau hơn, khả năng phục hồi của các rạn san hô sẽ tiếp tục phụ thuộc vào khả năng chống chịu tự nhiên của từng hệ sinh thái, đồng thời vào việc kiểm soát những áp lực khác như ô nhiễm, đánh bắt quá mức, phát triển ven biển và biến đổi môi trường biển.

Ngày Bảo vệ quốc tế tầng ô-dôn năm 2026: Điện cho làm mát đang chiếm hơn 25% tổng tiêu thụ ở Việt Nam

Theo số liệu ước tính, điện năng cho làm mát đang chiếm hơn 25% tổng tiêu thụ điện quốc gia, và có thể tiếp tục tăng trong những năm tới. Nếu không có biện pháp kiểm soát, đến năm 2030, lĩnh vực làm mát có thể chiếm gần 10% tổng phát thải khí nhà kính của Việt Nam. Trong bối cảnh nhiệt độ toàn cầu ngày càng tăng cao, nhu cầu làm mát ngày càng trở nên cấp thiết...

Bài toán giảm mục tiêu phát thải, duy trì năng lực cạnh tranh cho ngành xi măng

Xi măng và bê tông đóng vai trò thiết yếu đối với sản xuất, tuy nhiên sản xuất xi măng chiếm khoảng 7-8% lượng phát thải C02 toàn cầu, trở thành một trong các nguồn gây ô nhiễm lớn nhất hiện nay. Giải pháp giảm phát thải mà vẫn bảo đảm năng lực sản xuất, cạnh tranh cho doanh nghiệp... đang là bài toán nan giải.

[Trực tuyến]: Tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”

Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...

Rạng sáng 10.9 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Paris, bắt đầu thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, theo lời mời của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy