
Có thể thu hút vốn nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán - kể cả niêm yết cổ phiếu ở nước ngoài - để duy trì tăng trưởng kinh tế.
Ông Nguyễn Nam Sơn, Giám đốc Công ty Global Banking (thuộc Tập đoàn Citigroup), đã nhận định như thế từ kinh nghiệm của Trung Quốc. Ông nói:
- Trung Quốc duy trì được tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm liên tục là nhờ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài.
Từ năm 2000-2006, Trung Quốc thu hút được 144 tỉ USD từ các nhà đầu tư quốc tế trong khi mức đầu tư nội địa chỉ đạt 43 tỉ USD, chỉ bằng 1/3. Năm 2006, FDI của Trung Quốc là 60 tỉ USD và luồng vốn đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán là 58 tỉ USD. Trung Quốc cũng đã huy động vốn từ nước ngoài thông qua việc chào bán cổ phiếu lần đầu (IPO) của các công ty ra công chúng.
Hiện nay, có 20 công ty nhỏ của Trung Quốc niêm yết cổ phiếu ở Sở giao dịch Nasdaq (Mỹ) vì ở đây cổ phiếu của họ định giá tốt, mức thanh khoản cao và tiếp cận được các nhà đầu tư quốc tế.
Trong mười năm qua, ngành viễn thông của Trung Quốc có bốn công ty lớn thu hút được 12 tỉ USD bằng IPO khi đồng thời niêm yết ở các sàn giao dịch Hồng Kông và Mỹ; ngành năng lượng có bốn công ty lớn thu hút được 10 tỉ USD (một ở Mỹ và ba ở Hồng Kông). Ngành bảo hiểm có một công ty niêm yết ở Mỹ, hai ở Hồng Kông; ngân hàng có bốn công ty niêm yết ở Hồng Kông và hai ở Trung Quốc...
Ngoài vốn, khi niêm yết ở nước ngoài, các doanh nghiệp còn đặt thêm mục tiêu nào, thưa ông?
Việc niêm yết ở sàn giao dịch quốc tế, đặc biệt là IPO, không chỉ có tác dụng thu hút FDI hay nguồn tài chính mà tôi tin rằng hiệu quả quan trọng hơn là tiếp cận được thị trường quốc tế.
Các công ty Trung Quốc dùng mọi cơ hội có thể để quảng bá với các nhà đầu tư nước ngoài: tại sao làm ăn ở Trung Quốc lại tốt, tại sao cần phải đến Trung Quốc... Họ nói chuyện với tất cả và tìm cách tiếp cận những nhân vật quan trọng có ảnh hưởng mạnh tới các công ty lớn trên thế giới.
Nhưng quan trọng hơn, họ có ý định và chiến lược rõ ràng về thu hút vốn từ thị trường bên ngoài. Họ muốn dùng nguồn vốn đó để lèo lái tăng trưởng kinh tế chứ không phải là nguồn vốn trong nước.
Nhờ đó, họ duy trì được mức độ tăng trưởng hai con số mặc dù thị trường chứng khoán những năm qua của họ có nhiều biến động. Năm 2000, Trung Quốc thu hút được 8 tỉ USD từ thị trường chứng khoán nội địa, giảm dần đến 2005 chỉ còn 1 tỉ USD và khôi phục vào 2006 (6 tỉ USD).
Theo kinh nghiệm của tôi, mọi thứ lên cao rồi cũng phải đến lúc xuống thấp. thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có nhiều điểm tương đồng như Trung Quốc, lúc lên lúc xuống. Quan trọng là duy trì quãng thời gian tăng trưởng đến đâu và xuống đến mức nào thì chấp nhận được.
Có nên niêm yết ở nước ngoài khi mà nhiều chuyên gia trong nước khuyến cáo rằng cái khó là phải duy trì các chi phí và tiêu chuẩn sau khi niêm yết?
Khi các công ty Trung Quốc tính đến niêm yết ở thị trường chứng khoán quốc tế họ cũng gặp phải câu hỏi y hệt như vậy. Tại sao lại phải tới Mỹ? Ở trong nước thì đã làm sao? Và họ đã quyết định vẫn tiến hành theo hướng đó.
Vậy thì câu hỏi cho Việt Nam bây giờ có lẽ là tại sao các công ty Trung Quốc lại làm thế? Nếu không lợi lộc gì, tại sao họ vẫn làm? Điều này, theo tôi cần có chiến lược dài hạn. Ngay bây giờ, hãy tìm cách gặp những người điều khiển nhiều tỉ USD của thế giới.
Họ làm gì bạn biết không? Họ nói chuyện với hàng trăm tổng giám đốc các công ty. Nghề của họ là nói chuyện với các tổng giám đốc. Và nếu cho họ thông tin, họ sẽ nói với hàng trăm tổng giám đốc kia là tại sao nên đến Việt Nam. Chiến lược dài hạn đúng đắn không chỉ mang lại tiền mà còn rất nhiều thứ khác.
Việc niêm yết ở nước ngoài hay không tùy thuộc vào qui mô và mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu là doanh nghiệp nhỏ thì nên niêm yết ở Việt Nam. Nếu là doanh nghiệp vừa và có chiến lược vươn ra quốc tế thì có thể tính đến các sàn giao dịch ở Mỹ. Nếu chỉ để thu hút vốn thì có thể dừng ở Hồng Kông.
Nhận xét của ông về thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay?
Không riêng ở Việt Nam, vấn đề với tất cả các thị trường đang phát triển là thông tin.
Người ta chưa có thói quen hay điều kiện để ra quyết định đầu tư dựa vào nền tảng thông tin như ở Hồng Kông hay Mỹ, nơi diễn ra rất nhiều nghiên cứu, có các nhà đầu tư thể chế chuyên nghiệp, thông tin rõ ràng...
Ở Việt Nam tồn tại chủ yếu là giao dịch nhỏ lẻ. Với các cá nhân, việc chơi chứng khoán mang tính rủi ro quá cao và khá nguy hiểm vì họ không ra quyết định dựa vào thông tin mà phần lớn là theo cảm tính.




Đằng sau chiến dịch siết các nền tảng đầu tư xuyên biên giới, Trung Quốc dường như không muốn ngăn dòng vốn ra nước ngoài mà muốn kiểm soát đường đi của dòng vốn đó. Hồng Kông đang được tái định vị thành cửa ngõ trung tâm của một hệ sinh thái tài chính lấy đồng nhân dân tệ làm hạt nhân…
Trong bối cảnh hiện tại chúng ta tập trung vào các tài sản có giá trị thật bất động sản, cổ phiếu các doanh nghiệp nội tại mạnh, hay gia tăng tỷ trọng tiền gửi cũng là một lựa chọn phù hợp.
Hiệu suất nhóm quỹ cổ phiếu suy yếu trở lại trong tháng 5/2026 với mức giảm bình quân -1,4%...
Có 19/37 quỹ mở cổ phiếu tăng nắm giữ tiền mặt, đảo chiều so với diễn biến tăng giải ngân trong tháng 4/2026, cho thấy tâm lý thận trọng quay trở lại khi thị trường đang chịu áp lực điều chỉnh và dòng tiền chưa quay trở lại.
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.