Thông tin tại “Chương trình đào tạo, nâng cao năng lực phát triển xuất khẩu xanh” do Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức mới đây, ông Hoàng Thành, Quản lý chương trình, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, cho biết quy định của EU về chuỗi cung ứng không gây phá rừng và suy thoái rừng (EUDR) nhằm giảm thiểu nguy cơ các sản phẩm, chuỗi cung ứng liên quan đến phá rừng, suy thoái rừng được đưa vào thị trường EU hoặc xuất khẩu từ thị trường EU, góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm mất đa dạng sinh học trên toàn cầu.
Theo đó, từ 31/12/2024, quy định này bắt đầu áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức cũng như các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thành viên EU và tháng 6/2025 áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
7 hàng hóa được lựa chọn ban đầu, gồm: dầu cọ, đậu nành, gỗ, gia súc, ca cao, cà phê, cao su và một số sản phẩm có nguồn gốc từ các hàng hóa trên. Danh sách các mặt hàng và sản phẩm sẽ được cập nhật thường xuyên.
Trong 7 nhóm mặt hàng bị cấm nhập khẩu vào EU nếu quá trình sản xuất gây mất rừng, Việt Nam có 3 nhóm hàng bị tác động chính, đó là gỗ, cao su và cà phê. Trong đó, cà phê chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ EUDR vì chiếm 55% kim ngạch xuất khẩu, khoảng hơn 1,1 tỷ USD; tiếp đến là mặt hàng gỗ (636 triệu USD); cao su (252 triệu USD).
Ngoài ra, ông Thành cho hay, các mặt hàng trong lĩnh vực chăn nuôi cũng bị ảnh hưởng bởi EUDR. Do nhu cầu ngày càng tăng về thịt, sữa và các sản phẩm động vật khác đòi hỏi phải có những vùng đất rộng lớn để chăn nuôi, trồng cây thức ăn... dẫn đến nạn phá rừng trên diện rộng, phát thải khí nhà kính, ô nhiễm nguồn nước...
Chỉ ra những thách thức do tác động của EUDR đến doanh nghiệp Việt Nam, ông Đinh Sỹ Minh Lăng, Vụ thị trường châu Âu - châu Mỹ (Bộ Công Thương), cho biết đầu tiên là chi phí xuất khẩu sang EU tăng, có khả năng gây rủi ro cho các công ty vừa và nhỏ: Thủ tục truy xuất nguồn gốc và chứng nhận của EUDR sẽ yêu cầu các công nghệ, quy trình và chi phí hành chính cho việc tuân thủ.
Kế đến, hàng hóa của Việt Nam sẽ bị cạnh tranh xuất khẩu và mất thị phần tại EU bởi đối thủ cạnh tranh đã sẵn sàng cho việc tuân thủ đầy đủ EUDR. Tiếp theo là hạn chế năng lực truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng. Trong đó, việc khó xác định vùng trồng hợp pháp ảnh hưởng đến kết quả đánh giá và phân loại rủi ro vùng trồng của EU theo quốc gia, vùng sản xuất.
Cụ thể, với cà phê, 40% diện tích đất trồng cà phê tại Việt Nam đã được cấp chứng chỉ sản xuất bền vững, vấn đề tồn tại là diện tích mở rộng trên nền đất rừng kể từ sau năm 2003 đến nay đã và sẽ chứng nhận sử dụng đất thế nào? Với gỗ rừng trồng sản xuất, cả nước có 3,5 triệu ha rừng sản xuất, trên 60% số hộ trồng rừng đã được nhận giấy chứng nhận sử dụng đất, diện tích rừng sản xuất có chứng chỉ bền vững hiện mới đạt khoảng dưới 10% tổng diện tích rừng sản xuất. Diện tích cây cao su tại Việt Nam hiện khoảng 918 ngàn ha, 300 nghìn hộ tiểu điền tham gia trồng chiếm hơn 50%... thông tin về tình trạng giấy chứng nhận sử dụng đất của hộ trồng cao su cũng là một vấn đề nan giải.
Nói thêm về thách thức thực hiện EUDR ở Việt Nam, TS. Nguyễn Trung Kiên, Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), cho rằng yêu cầu của EUDR là truy xuất nguồn gốc hàng hóa nghiêm ngặt đến tận thửa đất, lô rừng nơi hàng hóa đó được sản xuất. 100% sản phẩm phải có định vị GPS/polygon đến từng mảnh vườn. Nhưng vùng sản xuất Việt Nam do diện tích có định vị thấp, chi phí định vị cao, quy mô nhỏ lẻ, manh mún; chuỗi giá trị phức tạp với nhiều lớp trung gian.
Bên cạnh đó, EUDR yêu cầu theo dõi diễn biến mất rừng bằng công cụ viễn thám, cà phê sản xuất trên đất gây mất rừng sau ngày 31/12/2020 không được thông quan, nhưng chúng ta lại chưa rõ về nền bản đồ rừng tham chiếu phản ánh đúng thực trạng vào mốc 31/12/2020. Những vùng đã chuyển sang trồng cà phê trước năm 2020 chưa thể hiện trên nền bản đồ rừng, một số chưa trùng khớp giữa bản đồ rừng và địa chính.
“Chúng ta chưa có cơ chế, biện pháp phản hồi thông tin minh bạch, hoặc biện pháp hỗ trợ nông hộ nguy cơ cao không xâm lấn rừng và tham gia trồng phục hồi rừng. Chưa có đánh giá tổng thể về nguy cơ xã hội và thử nghiệm giải pháp can thiệp”, TS. Kiên nêu thực trạng.
Mặc dù nhiều thách thức, nhưng các chuyên gia cho rằng cơ hội cho doanh nghiệp cũng lớn không kém nếu biết tận dụng lợi ích từ những yêu cầu này. Theo ông Lăng, sản phẩm tuân thủ yêu cầu về EUDR và có chứng chỉ của Hội đồng quản lý rừng thế giới (FSC) sẽ làm tăng tính cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.
Hơn nữa, EUDR giúp doanh nghiệp hình thành chuỗi cung ứng sản phẩm bền vững theo một chiến lược bài bản về vùng trồng và nguồn nguyên liệu hợp pháp (nguồn gốc và vị trí đất đai, truy xuất nguồn gốc, chia sẻ thông tin và phối hợp nhận hỗ trợ của cơ quan quản lý, hiệp hội nhằm đáp ứng tuân thủ...), nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nguồn cung và đảm bảo là sự lựa chọn ưu tiên đối với bạn hàng châu Âu.
Đồng thời, doanh nghiệp đáp ứng EUDR sẽ xây dựng hình ảnh doanh nghiệp xanh, góp phần làm giảm phát thải khí nhà kính, xây dựng môi trường sống xanh, giảm thiểu biến đổi khí hậu, xây dựng nền tảng để sẵn sàng đáp ứng cho các quy định xanh khác của EU (như CBAM).
Để vượt qua sự phức tạp của việc tuân thủ, đại diện Bộ Công Thương dẫn chứng kinh nghiệm của Peru. Quốc gia này là nơi xuất khẩu các mặt hàng bị ảnh hưởng bởi EUDR, bao gồm cà phê, ca cao, gỗ và dầu cọ chiếm khoảng 12% tổng lượng hàng xuất khẩu sang EU.
Đối mặt với EUDR, Peru đã đẩy mạnh hợp tác và phối hợp giữa các bộ của chính phủ. Khu vực tư nhân có sự hỗ trợ nhanh chóng và thiết thực từ cả người mua quốc tế và chính phủ để xác định vị trí địa lý của các khu vực sản xuất, triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc và xác minh rằng luật pháp địa phương đã được tuân thủ. Hợp tác quốc tế cũng được Peru ưu tiên, theo đó nhiều tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, FAO và Cơ quan Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) đang phát triển các công cụ hỗ trợ doanh nghiệp Peru tuân thủ EUDR...
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 35-2024 phát hành ngày 26/08/2024. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.
TP.Hồ Chí Minh sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp hoàn thiện, vận hành và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với thịt heo, thịt gia cầm và trứng gia cầm trong năm 2026, hướng tới minh bạch thông tin sản phẩm, tăng cường giám sát an toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả quản lý trên toàn chuỗi cung ứng...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.