
Phản hồi đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc góp ý hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về một số chính sách, giải pháp trọng tâm hỗ trợ doanh nghiệp chủ động thích ứng, phục hồi nhanh và phát triển bền vững đến năm 2025, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhất trí quan điểm, phải có Nghị quyết riêng về phát triển doanh nghiệp cho cả nhiệm kỳ, thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với sự nghiệp phát triển doanh nghiệp và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Do đó, phải đề ra những chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để bám sát và tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu quan trọng trong những nhiệm kỳ tiếp theo, như tới năm 2030, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình cao và tới năm 2045, Việt Nam sẽ gia nhập nhóm các quốc gia phát triển.
Dự thảo đặt ra chỉ tiêu “Đạt 1,5 triệu doanh nghiệp”. Theo VCCI, chưa rõ đây là số doanh nghiệp “đăng ký thành lập” hay là “đang hoạt động”? Nếu xác định là số doanh nghiệp đang hoạt động thì có thể phản ánh sát hơn về “sức khỏe” của nền kinh tế, mức độ thuận lợi của môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy và tạo điều kiện để các chủ thể kinh doanh có thể hoạt động.
Thêm nữa, Nghị quyết 10 cũng đã đặt ra mục tiêu đến năm 2025 có 1,5 triệu doanh nghiệp hoạt động. Vì vậy, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo quy định rõ mục tiêu này theo hướng: đạt 1,5 triệu doanh nghiệp đang hoạt động.
Nội dung của dự thảo lần này cũng đề ra mục tiêu: “Khu vực doanh nghiệp đóng góp khoảng 65 - 70% GDP cả nước, khoảng 30 - 35% tổng việc làm trong nền kinh tế và 98 - 99% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu...". VCCI thấy rằng, đặt mục tiêu như vậy là chưa làm rõ được tỷ trọng, vai trò của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước như thế nào so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong khi doanh nghiệp trong nước mới là động lực bền vững lâu dài, là rường cột cho sự phát triển của quốc gia.
Hay, dự thảo đề cập đạt: "Khoảng 35 - 40% tổng số doanh nghiệp có hoạt động ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; 100% cơ sở kinh doanh bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh được nâng cao nhận thức về chuyển đổi số”.... cũng sẽ rất khó định lượng và đánh giá kết quả đạt được.
Dự thảo cũng đề ra chỉ tiêu có “30.000 cơ sở kinh doanh được hỗ trợ chuyển đổi số”, như vậy là quá nhỏ và chiếm tỷ lệ quá thấp nếu so sánh với con số mục tiêu 1,5 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, chưa kể cộng thêm số hợp tác xã và hộ kinh doanh đang có. Nếu tính ra số lượng từng năm cho mỗi địa phương trong 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thì con số thực hiện hàng năm còn nhỏ hơn nữa. Thêm vào đó, dự thảo cũng không nêu rõ mức độ chuyển đổi số như thế nào.
Vì vậy, VCCI đề nghị nâng chỉ tiêu về số lượng doanh nghiệp được hỗ trợ chuyển đổi số và làm rõ mức độ chuyển đổi số; đồng thời, cân nhắc sử dụng một số mục tiêu cụ thể hơn, như: Về phát triển doanh nghiệp tư nhân trong nước, dự thảo cần điều chỉnh nội dung theo hướng: Doanh nghiệp tư nhân đăng ký chính thức theo Luật Doanh nghiệp đến năm 2025 có đóng góp 15% GDP, năm 2030 có đóng góp 20% của GDP. Có ít nhất 10 tập đoàn tư nhân trong nước quy mô lớn trong lĩnh vực công nghiệp và 10 tập đoàn tư nhân trong nước quy mô lớn trong lĩnh vực dịch vụ.
Đồng thời, đến năm 2025 sẽ chuyển đổi ít nhất 10% số hộ kinh doanh có đăng ký chính thức sang thành doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; có ít nhất 20% số doanh nghiệp sản xuất được vận hành theo cơ chế kinh tế tuần hoàn.
Tăng cường tỷ lệ nội địa hoá của các ngành tăng thêm 10% vào năm 2025, năng lực tự chủ tự cường, tự lập, nâng cao tính kết nối của doanh nghiệp tư nhân trong tham gia chuỗi sản xuất. Song song với đó, tăng cường chất lượng nhân lực với tỷ lệ lao động có kỹ năng tăng 10 bậc so với hiện tại và tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35%.
Về phát triển kinh tế số, dự thảo cần ghi rõ, doanh thu từ kinh doanh số của các doanh nghiệp sẽ tăng trung bình ít nhất 10% mỗi năm. Số lượng doanh nghiệp có chứng nhận doanh nghiệp khoa học công nghệ tăng trung bình 10% mỗi năm.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh khai thác ưu đãi của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng ưu đãi thuế quan theo các FTA đạt từ 40-45%. Hiện nay, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng ưu đãi thuế quan trung bình theo các FTA của Việt Nam khá khiêm tốn, năm vừa qua chỉ đạt 32,7%. Cần hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế quan, bởi đây là khía cạnh lợi ích dễ hiện thực hóa nhất của các FTA từ góc độ doanh nghiệp.




Đại hội Đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV đã tín nhiệm bầu bà Nguyễn Thị Nga - Chủ tịch Tập đoàn BRG, Quyền Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Vừa qua, Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG) đã có buổi làm việc cùng đoàn lãnh đạo cấp cao COFCO Biotechnology nhằm mở rộng các hoạt động hợp tác chiến lược quốc tế, khẳng định uy tín và tầm vóc thương hiệu hàng đầu.
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Mặc dù ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP lên tới 8,15% trong quý 1/2026, kinh tế Nghệ An vẫn đang đối mặt với không ít điểm nghẽn về năng lực quản trị, nguồn vốn và thủ tục hành chính. Để đồng hành với địa, thay vì “kêu khó, kêu khổ”, chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp địa phương đã cùng đối thoại để tìm kiếm giải pháp thực chất nhằm hiện thực hóa mục tiêu tự chủ ngân sách và phát triển bền vững…
Từ chương trình trồng thêm 1,5 triệu cây xanh, C.P. Việt Nam nối dài mục tiêu phát triển bền vững trên chuỗi nông nghiệp - thực phẩm.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.