Chiều 29/6/2026, tại TP. Hồ Chí Minh, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) và Forest Trends tổ chức Hội thảo tham vấn góp ý dự thảo tài liệu Hướng dẫn tuân thủ quy định EUDR cho ngành cao su Việt Nam. Sự kiện diễn ra với hình thức trực tiếp và trực tuyến qua zoom.
Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, cho biết Việt Nam đã ban hành Khung kế hoạch hành động về EUDR, từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý và các thông tư hướng dẫn. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đang xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia, quy chế quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ EUDR, hướng dẫn tạm thời về tuân thủ quy định và phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp cùng các tổ chức quốc tế để chuẩn bị dữ liệu phục vụ xuất khẩu.
"Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện thể chế, cơ sở dữ liệu và hệ thống truy xuất nguồn gốc để hỗ trợ ngành cao su đáp ứng EUDR trước thời điểm chính thức áp dụng", ông Mạnh nhấn mạnh; đồng thời cho biết Việt Nam hiện được Liên minh châu Âu xếp vào nhóm quốc gia có mức "rủi ro thấp". Thời điểm thực thi EUDR được lùi đến ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp thông thường và 30/6/2027 đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ.
Để đáp ứng yêu cầu mới, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đang xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng, bản đồ số vùng nguyên liệu cao su, hệ thống quản lý dữ liệu và tài liệu hướng dẫn tuân thủ EUDR.
Hệ thống cơ sở dữ liệu EUDR sẽ gồm ba hợp phần: cơ sở dữ liệu ranh giới rừng; cơ sở dữ liệu vùng trồng và hệ thống truy xuất nguồn gốc. Mỗi lô hàng được cấp mã truy xuất, tích hợp thông tin về nông hộ, tọa độ thửa đất, nhật ký canh tác và quá trình lưu thông, tạo cơ sở chứng minh tính minh bạch của chuỗi cung ứng khi xuất khẩu sang EU.
Năm 2025 Việt Nam có hơn 914 nghìn ha cao su với sản lượng khoảng 1,348 triệu tấn. Tuy nhiên, quá trình thích ứng với EUDR vẫn gặp nhiều khó khăn do phần lớn diện tích cao su tiểu điền còn thiếu dữ liệu nền, hồ sơ đất đai chưa hoàn thiện, dữ liệu địa chính chưa đồng bộ và năng lực thực thi của doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân còn hạn chế.
Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề nghị các địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất khẩn trương cập nhật cơ sở dữ liệu vùng trồng, hoàn thiện thông tin về tọa độ thửa đất và tăng cường phối hợp để đáp ứng các yêu cầu của EUDR.
Ông Võ Hoàng An, Tổng Thư ký VRA, cho biết ngành cao su đang đẩy nhanh quá trình thích ứng với EUDR, coi đây vừa là thách thức vừa là cơ hội để tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng minh bạch và bền vững.
Năm 2025, EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của ngành cao su Việt Nam với kim ngạch hơn 772 triệu USD, chiếm khoảng 9,2% tổng giá trị xuất khẩu. Để duy trì và mở rộng thị phần, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, không gây mất rừng và tính hợp pháp của vùng nguyên liệu.
"Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, số hóa bản đồ vùng trồng, áp dụng các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và điều chỉnh hệ thống quản trị nội bộ. Bên cạnh đó, doanh nghiệp FDI đã tăng cường liên kết với hộ tiểu điền để thu thập dữ liệu đất đai, trong khi doanh nghiệp tư nhân mở rộng chuỗi liên kết với nông hộ. Xu hướng chung của toàn ngành là đẩy mạnh số hóa và minh bạch chuỗi cung ứng", ông An nhận định.
Tuy nhiên, ngành vẫn gặp nhiều khó khăn do nguồn nguyên liệu đến từ hàng trăm nghìn hộ tiểu điền, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, việc xác lập ranh giới đất và truy xuất nguồn gốc còn hạn chế, trong khi chi phí đầu tư công nghệ khá lớn. Vì vậy, VRA kiến nghị xây dựng nền tảng truy xuất nguồn gốc dùng chung cho toàn ngành, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, đại lý và nông hộ, đồng thời có giai đoạn chuyển tiếp hợp lý cùng các chương trình hỗ trợ kỹ thuật từ EU và các tổ chức quốc tế.
Tại hội thảo, Ban soạn thảo công bố dự thảo Hướng dẫn tuân thủ quy định EUDR cho ngành cao su Việt Nam (không áp dụng đối với gỗ cao su). Dự thảo này được thực hiện với sự phối hợp giữa Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật với VRA và Forest Trends.
Theo dự thảo, các sản phẩm cao su xuất khẩu phải đáp ứng ba điều kiện: sản xuất hợp pháp theo pháp luật của quốc gia sản xuất; không gây mất rừng hoặc suy thoái rừng sau ngày 31/12/2020; và bảo đảm định vị địa lý, truy xuất nguồn gốc. Lô đất từ 4 ha trở xuống được phép cung cấp một điểm tọa độ, còn lô trên 4 ha phải xác định đầy đủ tọa độ tạo thành đa giác khép kín.
Dự thảo cũng quy định trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi cung ứng. Chủ lô cao su cung cấp thông tin về quyền sử dụng đất và vùng trồng; đại lý thu mua kiểm tra nguồn nguyên liệu, thực hiện tách biệt vật lý nếu phát hiện rủi ro; doanh nghiệp chế biến, nhập khẩu và xuất khẩu lưu trữ hồ sơ chuỗi cung ứng tối thiểu 5 năm để phục vụ việc lập Tuyên bố thẩm định chuỗi cung ứng (DDS) của nhà nhập khẩu EU.
Đồng thời, dự thảo yêu cầu thiết lập quy trình kiểm soát nội bộ để ngăn chặn việc trộn lẫn nguyên liệu không đạt chuẩn. Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ chủ trì triển khai hướng dẫn; cơ quan Kiểm lâm công khai bản đồ hiện trạng rừng, còn UBND cấp xã xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với các hộ chưa được cấp giấy chứng nhận.
Đóng góp ý kiến vào dự thảo, các đại biểu đề nghị làm rõ mốc thời gian áp dụng EUDR; khẳng định quy định phân loại doanh nghiệp chỉ áp dụng đối với nhà nhập khẩu EU, không áp dụng trực tiếp với doanh nghiệp Việt Nam.
Các ý kiến cũng đề nghị làm rõ các khái niệm về mất rừng, suy thoái rừng và sản xuất hợp pháp; bổ sung quy định về cơ chế tự khai báo (DDS), yêu cầu tách biệt vật lý nguyên liệu thay cho cơ chế cân bằng khối lượng và bổ sung các nguồn dữ liệu bản đồ tham chiếu hợp pháp. Nhiều doanh nghiệp kiến nghị tiếp tục đơn giản hóa thủ tục cho hộ tiểu điền.
Ban soạn thảo cho biết đã cho phép nông hộ ủy quyền hoặc nhờ hợp tác xã, doanh nghiệp hỗ trợ thu thập tọa độ; lược bỏ yêu cầu lưu trữ hồ sơ 5 năm ở đầu chuỗi; đồng thời bổ sung mẫu xác nhận quyền sử dụng đất của UBND cấp xã đối với các diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận. Các biểu mẫu phụ lục chỉ mang tính tham khảo, không bắt buộc nếu doanh nghiệp đã có hệ thống quản lý số phù hợp.
Hiện nay, nước sạch ở Việt Nam là loại hàng hóa rẻ nhất khi tính theo khối lượng. Trong khi đó, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt chỉ là 10% giá bán nước sạch. Phí bảo vệ môi trường trong giá nước sạch thấp khiến cho ngân sách nhà nước phải chi trả hầu như toàn bộ chi phí cho hệ thống tiêu thoát, xử lý nước thải và tình trạng ngập lụt ở nhiều đô thị rất nặng nề…
Các chính phủ tham dự COP17 tại Armenia đã nhất trí đẩy nhanh hành động bảo vệ đa dạng sinh học toàn cầu, song bài toán tài chính vẫn chưa có lời giải. Trong khi mục tiêu bảo tồn 30% diện tích đất liền và biển vào năm 2030 đứng trước nguy cơ không hoàn thành, khoảng cách giữa cam kết và nguồn lực thực hiện ngày càng lớn…
UBND Thành phố Hà Nội yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp danh mục các dự án thuộc phạm vi quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đồng thời tham mưu UBND Thành phố công bố danh sách các dự án này định kỳ vào ngày 30/6 và ngày 31/12 hằng năm...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 44-2026 phát hành ngày 02/11/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Đây là mô hình tích hợp, kết nối việc phân loại chất thải sinh hoạt tại hộ gia đình với thu gom, tái chế và vận chuyển phần chất thải không thể tái chế đến nhà máy xi măng để đồng xử lý. Nhà máy xi măng có thể tiếp nhận, sử dụng phần chất thải không thể tái chế làm nguồn nguyên liệu, nhiên liệu thay thế, qua đó giảm lượng rác phải chôn lấp và góp phần hạn chế phát thải khí nhà kính...
Từ những công trình kiến trúc cổ kính đến không gian Hoàng cung được tái hiện bằng công nghệ số, di sản Huế đang được kể lại bằng ngôn ngữ mới, đưa những câu chuyện lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ.
Mô hình điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ với các thông số cụ thể về khả năng tiết kiệm điện, công suất, chất lượng tấm pin, bộ biến tần (inverter), thương hiệu thiết bị… đang được nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất quan tâm. Đây là giải pháp giúp chủ động nguồn điện, góp phần phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường, là mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững có thể nhân rộng.