Theo số liệu thống kê sơ bộ được Tổng cục Hải quan công bố ngày 14/6, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 5/2024 (từ ngày 16/5 đến ngày 31/5/2024) đạt 32,74 tỷ USD, tăng 2,7% (tương ứng tăng 861 triệu USD) so với kết quả thực hiện trong kỳ 1 tháng 5/2024 (từ ngày 01/5 đến ngày 15/5/2024).
Kết quả đạt được trong nửa cuối tháng 5/2024 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước trong 5 tháng đầu năm 2024 đạt 303,94 tỷ USD, tăng 16% (tương ứng tăng 42 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2023; trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 205,44 tỷ USD, tăng 13,7% (tương ứng tăng 24,82 tỷ USD); tổng trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp trong nước là 98,5 tỷ USD, tăng 21,1% (tương ứng tăng 17,18 tỷ USD).
Cụ thể, về xuất khẩu, trong kỳ 2 tháng 5/2024 đạt 17,56 tỷ USD, tăng 20,2% (tương ứng tăng 2,95 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 1 tháng 5/2024.
Trị giá xuất khẩu kỳ 2 tháng 5/2024 biến động tăng so với kỳ 1 tháng 5/2024 ở một số nhóm hàng sau: điện thoại các loại và linh kiện tăng 710 triệu USD (tương ứng tăng 39,9%); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 558 triệu USD (tương ứng tăng 31,2%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 327 triệu USD (tương ứng tăng 12,6%); sắt thép các loại tăng 262 triệu USD (tương ứng tăng 98%)…
Bên cạnh đó, trị giá một số nhóm hàng xuất khẩu trong kỳ 2 tháng 5/2024 giảm mạnh so với kỳ trước như dầu thô giảm 37 triệu USD (tương ứng giảm 33,1%); sản phẩm hóa chất giảm 27,3 triệu USD (tương ứng giảm 22,9%); cà phê giảm 18,1 triệu USD (tương ứng giảm 10,3%)…
Như vậy, tính chung 5 tháng đầu năm 2024, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 156,28 tỷ USD, tăng 14,9% (tương ứng tăng 20,23 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 2 tháng 5/2024 đạt 12,66 tỷ USD, tăng 22% (tương ứng tăng 2,28 tỷ USD) so với kỳ 1 tháng 5/2024, qua đó nâng tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa trong 5 tháng đầu năm 2024 của nhóm các doanh nghiệp này lên 111,93 tỷ USD, tăng 13,1% (tương ứng tăng 12,95 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 71,6% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Từ chiều ngược lại, trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 5/2024 đạt 15,18 tỷ USD, giảm 12,1% (tương ứng giảm 2,09 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong kỳ 1 tháng 5/2024.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 2 tháng 5/2024 giảm so với kỳ 1 tháng 5/2024 chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 543 triệu USD (tương ứng giảm 12%); vải các loại giảm 200 triệu USD (tương ứng giảm 24,6%); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng giảm 139 triệu USD (tương ứng giảm 6,3%); chất dẻo nguyên liệu giảm 133 triệu USD (tương ứng giảm 22,4%); xăng dầu các loại giảm 132 triệu USD (tương ứng giảm 30,4%); sắt thép các loại giảm 127 triệu USD (tương ứng giảm 20,4%)…
Bên cạnh đó, trị giá một số nhóm hàng nhập khẩu trong kỳ 2 tháng 5/2024 tăng mạnh so với kỳ trước như quặng và khoáng sản tăng 80 triệu USD (tương ứng tăng 99,9%); ngô tăng 62 triệu USD (tương ứng tăng 100%); điện thoại các loại và linh kiện tăng 43 triệu USD (tương ứng tăng 13,8%); phân bón các loại tăng 31,9 triệu USD (tương ứng tăng 44,2%)…
Như vậy, tính trong 5 tháng đầu năm 2024, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 147,67 tỷ USD, tăng 17,3%, tương ứng tăng 21,77 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Số liệu của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy trong kỳ 2 tháng 5/2024 trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI đạt 9,68 tỷ USD, giảm 10,1% (tương ứng giảm 1,09 tỷ USD) so với kỳ 1 tháng 5/2024.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp FDI đạt 93,51 tỷ USD, tăng 14,5% (tương ứng tăng 11,87 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 63,4% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Như vậy, với kết quả trên, trong kỳ 2 tháng 5/2024, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 2,38 tỷ USD. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 8,61 tỷ USD, thấp hơn so với mức thặng dư 10,15 tỷ USD của cùng kỳ năm 2023.
Sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng những lợi thế địa kinh tế vượt trội, Việt Nam đang nắm giữ chìa khóa vàng để bứt phá thành một cường quốc kinh tế biển. Tuy nhiên, hành trình vươn khơi của các ngành kinh tế hiện đang vấp phải những rào cản lớn về thể chế quản lý không gian biển...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...