Tại phiên chất vấn các thành viên Chính phủ sáng 8/11, Đại biểu Nguyễn Thanh Cầm, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Tiền Giang đề nghị Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết giải pháp sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao sau xuất khẩu lao động.
Đại biểu cũng đề nghị Bộ thông tin về kế hoạch đảm bảo xuất khẩu lao động có cơ cấu hợp lý, để vừa một mặt đảm bảo quyền lợi của người dân, một mặt không làm gia tăng tình trạng thiếu hụt nhân lực lao động tại Việt Nam, đặc biệt tại các khu công nghiệp của các thành phố lớn.
Trả nời nội dung này, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung nêu rõ, thực hiện theo tinh thần của Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, hiện trung bình mỗi năm nước ta đưa được khoảng 120.000 - 143.000 người đi lao động ở nước ngoài.
Trong đó riêng năm 2023, tính đến thời điểm hiện tại, đã đưa được khoảng 112.000 người đi lao động ở nước ngoài, chủ yếu tại thị trường Nhật Bản 55.000 người, Đài Loan (Trung Quốc) 30.000 người.
"Nguồn lực lao động nước ngoài này trung bình một năm đem lại nguồn lợi cho đất nước từ 3,5 – 4 tỷ USD", Bộ trưởng Đào Ngọc Dung thông tin.
Bộ trưởng Dung cho biết, để phát huy lực lượng lao động ở nước ngoài là vấn đề Chính phủ đã có chỉ đạo trong các Nghị quyết. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã và đang thực hiện các giải pháp, như xây dựng trang thông tin điện tử, xây dựng sàn giao dịch việc làm cho đối tượng này.
Cùng với đó, Bộ cũng kết nối doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài, đơn cử với trường hợp lao động ở Nhật Bản về nước thì có thể vào làm việc tại các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ phù hợp hơn, người lao động cũngphát huy được năng lực, kinh nghiệm.
Bên cạnh đó, có quy định bổ sung hình thức đưa lao động theo diện ngắn hạn, thời vụ, theo mùa..., nhằm tận dụng sở trường của người lao động.
Giải pháp nữa cũng được tính đến là tạo điều kiện cho nhóm đối tượng đi làm việc ở nước ngoài được vay vốn tiếp tục sản xuất, kinh doanh sau khi trở về; thu hút lượng lao động có kỹ năng sau khi về nước.
Về quy mô lực lượng lao động, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, mỗi năm Bộ giải quyết việc làm cho khoảng 1,6 -1,7 triệu lao động trong nước, số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài hiện nay khoảng 130.000 – 140.000 mỗi năm, chiếm khoảng 10%.
Tỷ lệ lao động làm việc ở nước ngoài hiện được duy trì thường xuyên ở nức 500.000 – 650.000 người. "Quy mô này là vừa phải", Bộ trưởng Dung cho hay.
Mặc dù vậy, Bộ trưởng cho biết, căn cứ nhu cầu lao động trong nước ở từng thời điểm, nếu tăng lên sẽ có chính sách để cân đối, điều chỉnh giảm số lượng lao động đưa đi làm việc ở nước ngoài, nhằm giữ tỷ lệ phù hợp không ảnh hưởng đến trong nước.
Bên cạnh đó, Bộ cũng sẽ lựa chọn những ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn phù hợp để đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, nhằm đảm bảo cơ cấu lao động trong nước.
"Việc đưa lao động đi nước ngoài làm việc sẽ giữ một tỷ lệ phù hợp và không ảnh hưởng đến quy mô lực lượng lao động trong nước", Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung nhấn mạnh.
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đánh giá Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm đã không ngừng phát triển, khẳng định vị thế là một trong những cơ quan báo chí kinh tế hàng đầu, uy tín của đất nước...
"Chúng tôi tin tưởng Tạp chí Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ, hiện thực hóa mục tiêu trở thành tổ hợp truyền thông đa nền tảng, hiện đại, chất lượng cao, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước"...
Công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất trong nhà trường, đội ngũ giáo viên và người học, đồng thời cụ thể hóa Nghị quyết 71-NQ/TW bằng nhiệm vụ, nguồn lực, thời hạn và trách nhiệm rõ ràng.
Dự thảo Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu tập trung tái cơ cấu hệ thống phân phối, cắt giảm khâu trung gian và bắt buộc số hóa dữ liệu. Việc hoàn thiện khung pháp lý này nhằm minh bạch hóa thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng và duy trì nguồn cung ổn định cho nền kinh tế trong mọi tình huống…
Báo chí Cách mạng Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc giám sát xã hội và phản biện chính sách. Chính năng lực giám sát, phản biện đã thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế, tạo nên uy tín và sức mạnh cho báo chí với tư cách một “quyền lực thứ tư” trong đời sống hiện đại.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.