
Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), năm 2007, cả nước đã đưa lao động đi làm việc ở 30 thị trường nước ngoài, vượt 6,25% kế hoạch.
Việt Nam đã ký được Bản ghi nhớ về hợp tác lao động với Oman, đang đàm phán để ký kết Hiệp định với các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất, Libi, Liên bang Nga và CHDCND Lào trong năm 2008. Đã thiết lập được quan hệ chính thức với Cộng hòa Czech, Cộng hòa Cyprus, Australia, Hoa Kỳ...
Khó khăn tại thị trường truyền thống
Theo nhận định của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, năm 2008, các thị trường truyền thống sẽ tiếp tục khó khăn. Đơn cử, thị trường Đài Loan là một trong những thị trường truyền thống luôn tiếp nhận số lượng lớn lao động Việt Nam nhưng do nơi đây vẫn tiếp tục tạm dừng nhận lao động Việt Nam sang làm việc trong các gia đình, nên lao động đưa sang chủ yếu là lao động công nghiệp, xây dựng và thuyền viên đánh cá. Tổng cộng có gần 24 ngàn lao động đã sang Đài Loan năm 2007.
Năm 2006, Malaysia tiếp nhận 26.704 lao động Việt Nam. Năm nay, mặc dù vẫn chiếm số lượng cao nhất so với các thị trường khác, nhưng con số này chỉ bằng 70% số lao động đã đưa đi năm 2006. Lao động không còn mặn mà với thị trường này, bởi mức lương không hấp dẫn. Hiện nay có khoảng 120 ngàn lao động Việt Nam đang làm việc tại nước này, thu nhập nhìn chung ổn định.
Thị trường Qatar từ cuối 2006 đã bắt đầu nhận lao động Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng, ngay sau đó, trong các tháng đầu năm 2007, số lượng lao động đưa đi tăng rất nhanh. Tuy nhiên, do toàn bộ lao động đưa sang Qatar là lao động xây dựng, chủ yếu là lao động tự học nghề, chưa qua đào tạo trường lớp nên ý thức tổ chức, kỷ luật kém. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phải chỉ đạo giảm nhịp độ đưa lao động đi để chấn chỉnh việc quản lý lao động.
Với thị trường cao cấp cánh cửa nhận lao động đã hẹp nay càng hẹp hơn. Việc Chính phủ Hàn Quốc hiện dừng thực hiện chương trình tiếp nhận lao động dưới hình thức tu nghiệp sinh công nghiệp. Vì vậy đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại nước này chỉ được thực hiện theo chương trình tiếp nhận lao động nước ngoài do Bộ Lao động Hàn Quốc và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam phối hợp. Hiện nay có khoảng 46.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại Hàn Quốc.
Ngoài số lượng lao động được đưa theo chương trình nói trên, năm 2007, Việt Nam còn cung ứng khoảng 1.700 thuyền viên đánh cá cho các chủ tàu Hàn Quốc. Vấn đề nổi lên trong việc đưa lao động sang Hàn Quốc hiện nay là tuyển chọn người. Số lượng được nước bạn tiếp nhận thì có hạn (mỗi năm chừng 10 ngàn người), trong khi lại có quá nhiều nhu cầu. Vì thế đã nảy sinh những vấn đề tiêu cực liên quan như: lừa đảo người lao động, chi phí trung gian lớn...
Eo hẹp thị trường cao cấp
Thị trường Nhật Bản cũng là một trong những điểm dừng chân đem lại thu nhập cao cho lao động Việt Nam. Chủ yếu lao động Việt Nam đưa sang Nhật Bản là dưới dạng tu nghiệp sinh, phía bạn đánh giá cao tay nghề, tính cần cù, chịu khó và khả năng tiếp thu kỹ thuật lao động mới của lao động người Việt.
Thu nhập bình quân của các tu nghiệp sinh hiện ở mức từ 700-1.100 USD/tháng. Các năm trước, số tu nghiệp sinh Việt Nam tại Nhật tự ý bỏ hợp đồng ra ngoài làm viêc với tỷ lệ cao nên hàng năm Việt Nam chỉ đưa được chừng 3.000 lao động sang. Sau khi bị siết chặt lại, số người bỏ ra ngoài chỉ còn khoảng 3%. Kết quả năm ngoái đã đưa được 5.517 người (mục tiêu là đưa được 10.000 tu nghiệp sinh hàng năm).
Với thị trường Czech, từ đầu năm 2007, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ đạo mở lại thị trường để thí điểm đưa lao động đi. Đến nay mới đưa được khoảng 400 lao động. Còn với thị trường Australia, số lượng không nhiều do lao động không đáp ứng được các điều kiện về tay nghề và ngoại ngữ. Riêng thị trường Hoa Kỳ và Canada vẫn chưa đưa lao động đi dược do các doanh nghiệp gặp khó khăn khi xin thủ tục nhập cảnh cho lao động.
Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, chất lượng nguồn lao động xuất khẩu chưa đáp ứng được yêu cầu là trở ngại lớn nhất. Với mục tiêu đưa 85.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, năm 2008 sẽ tập trung đầu tư, nâng chất lượng nguồn lao động. Xây dựng kế hoạch và đưa vào thực hiện đào tạo lao động xuất khẩu trong khuôn khổ chương trình đào tạo nghề quốc gia.
Trước mắt nghiên cứu triển khai sớm việc hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đào tạo hoặc đặt hàng các cơ sở dạy nghề đối với một số nghề đang có nhu cầu cao trên thị trường quốc tế; hình thành một vài trung tâm đào tạo lao động xuất khẩu nhằm nghiên cứu, đào tạo mẫu các nghề đặc thù cho thị trường lao động nước ngoài để triển khai rộng rãi trong hệ thống trường dạy nghề.




Sở Nội vụ Hà Nội thông báo cắt giảm, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính và các quy định về việc làm, an toàn vệ sinh lao động. Nhiều thủ tục sẽ tạm dừng thực hiện kể từ ngày 1/7/2026 đến hết ngày 28/2/2027...
Tại địa phương, căn cứ số biên chế được cơ quan có thẩm quyền giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ lên phương án phân bổ biên chế công chức hằng năm, đối với các cơ quan sử dụng biên chế công chức của cấp tỉnh và cấp xã...
Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội dự báo trong tháng 6 và các tháng tiếp theo, nhu cầu tuyển dụng trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, xây dựng, cơ điện, logistics và sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì ở mức cao…
Các đại dự án hạ tầng và bất động sản đang tạo ra lực kéo khổng lồ cho thị trường lao động Hà Nội, tiêu biểu là các đợt tuyển dụng với quy mô hàng chục nghìn nhân sự phục vụ cho các đại dự án trên địa bàn thành phố…
Sở Nội vụ Hà Nội ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết thủ tục hành chính cấp lại, gia hạn giấy phép lao động; cấp lại, gia hạn giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài đang làm việc trên địa bàn thành phố...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.