Tờ báo Financial Times cho biết tổng tiền lãi nợ công của các quốc gia thành viên Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã vượt mốc 2 nghìn tỷ USD trong năm 2025, tương đương khoảng 3% tổng sản lượng kinh tế của khối. Đồng thời, mức vay nợ mới của các chính phủ trong OECD được dự báo sẽ đạt con số kỷ lục 18 nghìn tỷ USD trong năm nay.
Áp lực này thể hiện rõ nét tại một số nền kinh tế phát triển lớn nhất thế giới. Mỹ, Anh và Pháp hiện chi nhiều tiền cho việc trả lãi nợ công hơn chi cho quốc phòng, và hơn một chục quốc gia OECD khác cũng đang đối mặt với tình trạng mất cân đối tương tự.
Vấn đề này bắt nguồn từ sự kết hợp giữa khối lượng vay nợ kỷ lục tích tụ trong thập kỷ qua và xu hướng tăng liên tục của lãi suất vay. Trong nhiều năm, các chính phủ có thể huy động các khoản vay lớn với lãi suất tương đối thấp nhờ việc các ngân hàng trung ương duy trì lãi suất cực thấp và tích cực mua vào trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên, những yếu tố thuận lợi đó đến nay đã không còn.
Đại dịch Covid-19 đã buộc các chính phủ tại các nước phát triển phải vay nợ ồ ạt để tài trợ cho các chương trình kích thích kinh tế, các biện pháp ứng phó y tế và các gói cứu trợ cho những doanh nghiệp phải đóng cửa. Vào thời điểm đó, lãi suất đang ở mức gần bằng 0.
Sau đó, các ngân hàng trung ương đã tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát, khiến lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của nhóm G7 đạt mức trung bình khoảng 4%, mức cao nhất kể từ năm 2008. Các khoản nợ được phát hành với lãi suất thấp trong thời kỳ đại dịch đến nay phải được đảo nợ với mức lãi suất cao hơn, làm tăng tỷ trọng tiền thuế của dần để đáp ứng nghĩa vụ trả lãi.
Tuần trước, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm đã lên mức gần 4,82%, cao nhất kể từ tháng 11/2023.
Gần đây, Mỹ đã chứng kiến nợ công tăng lên mức kỷ lục 40 nghìn tỷ USD. Quốc gia này cũng đang đối mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách dai dẳng, làm gia tăng lo ngại về triển vọng tài khóa dài hạn. Trong tài khóa 2026 bắt đầu từ ngày 1/10/2025 kéo dài đến ngày 30/9/2026, thâm hụt ngân sách chính phủ Mỹ đã lên tới 1,9 nghìn tỷ USD.
Theo một dự báo của Văn phòng Ngân sách Quốc hội (CBO) của Mỹ vào đầu năm nay, đến năm 2036, Mỹ sẽ phải trả hơn 2 nghìn tỷ USD tiền lãi nợ công mỗi năm, tương đương khoảng 5% GDP.
Anh và Pháp cũng đang chịu áp lực đặc biệt lớn do tăng trưởng kinh tế tương đối yếu và chi phí vay vốn cao. Anh hiện phải chi khoảng 110 tỷ bảng Anh mỗi năm để trả lãi nợ công. Chi phí trả lãi nợ công của nước này được dự báo sẽ tiến sát mức 4% GDP vào giai đoạn 2030-2031, gấp đôi tỷ trọng ghi nhận trước đại dịch.
Pháp cũng đang đối mặt với áp lực chi phí đi vay ngày càng lớn do lợi suất trái phiếu chính phủ Pháp leo thang. Lãi vay tăng cao đang gây thêm khó khăn cho nỗ lực cắt giảm thâm hụt tài khóa của Pháp, nhất là khi Chính phủ nước này vẫn phải duy trì các dịch vụ công và các cam kết chi tiêu khác. Sự bất định về chính trị khiến câu chuyện thêm phần phức tạp: Pháp đã thay tới ba đời thủ tướng kể từ cuộc bầu cử năm 2024, và sau mỗi lần có thủ tướng mới, lợi suất trái phiếu chính phủ nước này lại tăng thêm.
Bức tranh tổng thể về nợ công của thế giới cũng đang xấu đi. Nợ công toàn cầu đã chạm mức 94% GDP thế giới vào năm ngoái, cao hơn hơn 10 điểm phần trăm so với mức trước đại dịch. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tỷ lệ này sẽ đạt 100% vào cuối thập kỷ này.
Tiền lãi nợ công gia tăng đang tạo ra một vòng xoáy tác động tiêu cực. Khi các chính phủ vay thêm để trang trải các nghĩa vụ nợ hiện có, nhà đầu tư có thể đòi hỏi lợi suất cao hơn để bù đắp cho rủi ro tài khóa gia tăng. Mức lợi suất cao hơn này lại làm tăng chi phí trả nợ trong tương lai, gây thêm áp lực lên tài chính công.
Hệ quả chính trị tức thời rất rõ ràng: các chính phủ có ít ngân sách hơn để chi tiêu cho những gì cử tri thực sự mong muốn. Mỗi đồng USD, bảng Anh hay euro dành cho việc trả nợ là một đồng không thể dùng để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa quân sự hay các chương trình an sinh xã hội.
Thị trường trái phiếu chính là kênh truyền dẫn áp lực này.Việc chênh lệch lợi suất trái phiếu của Pháp so với Đức nới rộng là dấu hiệu cảnh báo sớm cho thấy định hạng tín dụng quốc gia có thể thay đổi nhanh chóng ngay cả đối với các nền kinh tế lớn.
Và khi các chính phủ vay thêm 18 nghìn tỷ USD chỉ trong một năm, nguồn vốn này bị rút khỏi các cơ hội đầu tư tiềm năng khác, khiến các nhà đi vay tư nhân phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn để tiếp cận nguồn vốn sẵn có.
Các chính phủ có rất ít lựa chọn để phá vỡ vòng xoáy này. Họ có thể tăng thuế, cắt giảm chi tiêu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn hoặc tìm cách giảm chi phí vay vốn. Mỗi giải pháp đều đi kèm với những hệ quả đáng kể về mặt kinh tế hoặc chính trị.
Một số chính phủ đang điều chỉnh chiến lược quản lý nợ bằng cách phát hành nhiều trái phiếu ngắn hạn hơn - một phương án có thể giúp giảm chi phí lãi vay trong giai đoạn đầu. Tuy nhiên, việc phụ thuộc nhiều hơn vào vay nợ ngắn hạn cũng khiến tài chính công dễ bị tổn thương trước những đợt tăng lãi suất đột ngột.
Xét về lâu dài, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn có thể giúp giảm bớt gánh nặng nợ nần bằng cách tăng nguồn thu ngân sách và giảm tỷ lệ nợ trên GDP. Nếu không có sự cải thiện như vậy, các chính phủ có thể ngày càng rơi vào tình thế buộc phải lựa chọn giữa việc trả nợ hiện có và tài trợ cho các lĩnh vực ưu tiên như quốc phòng, an ninh năng lượng và dịch vụ công.
Gói lương hàng năm của Thủ tướng Wong sẽ tăng 2,8 triệu USD, bao gồm cả tiền lương và tiền thưởng...
Trung Quốc dẫn đầu với thặng dư tương đương 5,5% GDP, trong khi Mỹ thâm hụt 3,2% GDP...
Hoạt động phong tỏa của Mỹ cùng lượng dầu dự trữ trên biển ngày càng giảm đang siết chặt nguồn thu xuất khẩu quan trọng nhất của Iran…
Giá vàng thế giới giằng co trong biên độ rộng trước khi kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Ba (8/9) trong trạng thái giảm mạnh...
Thị trường chứng khoán Mỹ giảm điểm trong phiên giao dịch ngày thứ Ba (8/9), khi căng thẳng ở Trung Đông đẩy giá dầu thô tiến về phía mốc 100 USD/thùng...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.