Như VnEconomy đã đề cập ở bài viết “
Nợ xấu ngân hàng trốn đi đâu?
”
, nếu nhìn vào báo cáo tài chính thì hầu hết các ngân hàng thương mại đều có tỷ lệ nợ xấu “đẹp”, dưới 3%. Tuy nhiên, mức độ tin cậy nói chung chưa hẳn đã được đầy đủ.
Có những khoản nợ xấu không trốn đi, nó nằm đó, chỉ có điều người ta không chịu gọi đúng tên mà thôi. Một phần đáng ra là nợ xấu nhưng vẫn được nằm ở nhóm chưa xấu; một phần về bản chất là nợ, và xấu, nhưng đã được “refresh” (làm mới lại) trước thời điểm chốt sổ báo cáo.
“Vắng mặt” nợ Vinalines
Ngày 26/8, Ngân hàng Á Châu (ACB) công bố báo cáo tài chính giữa niên độ cho giai đoạn 6 tháng kết thúc vào 30/6/2013. Có điểm mà đơn vị kiểm toán lưu ý, trong đó có khoản nợ của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) và các công ty thành viên.
Tại ACB, có 464,733 tỷ đồng cho vay Vinalines cùng với 500 tỷ đồng trái phiếu phát hành bởi tổng công ty này và 135,949 tỷ đồng lãi trái phiếu phải thu được phân loại là nhóm 2 - nợ cần chú ý, mà không chuyển sang nhóm nợ có chất lượng thấp hơn.
Nếu phân loại sang nhóm có chất lượng nợ thấp hơn đồng nghĩa với mức trích lập dự phòng cao hơn, nợ xấu đội thêm và lợi nhuận giảm đi. Tuy nhiên, những khoản nợ đó đã được gia hạn, và sự “vắng mặt” của chúng trong nhóm 3 - 5 khiến nợ xấu của ngân hàng dễ chịu hơn về mặt số liệu tại thời điểm công bố.
Cơ chế trên được thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 276/QĐ-CP ngày 4/2/2013 phê duyệt đề án tái cơ cấu Vinalines giai đoạn 2012 - 2015.
Sau chỉ đạo của Thủ tướng, Ngân hàng Nhà nước ngày 18/4/2013 cũng đã có công văn đề nghị các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện cơ cấu nợ đối với các khoản vay mua, đóng mới tàu biển của Vinalines và các doanh nghiệp thành viên mà tổng công ty chiếm tỷ lệ vốn góp từ 51% trở lên. Điểm đáng chú ý là việc cơ cấu lại nợ gắn với yêu cầu xem xét không chuyển nhóm nợ và giữ nguyên xếp hạng tín dụng doanh nghiệp.
ACB chỉ là một ngân hàng với cấu phần nhỏ trong tổng nợ của Vinalines và các thành viên. Như trường hợp của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) trước đây, tất cả không phản ánh ở tỷ lệ nợ xấu mà các ngân hàng báo cáo.
Theo số liệu từ đề án tái cơ cấu Vinalines, tính đến tháng 5/2012, toàn hệ thống tổng công ty này nợ các tổ chức tín dụng hơn 60.000 tỷ đồng. Trong năm 2012 các khoản phải trả là hơn 6.000 tỷ đồng, nhưng họ chỉ có thể trả được hơn 2.000 tỷ đồng, còn lại xin được cơ cấu và gia hạn.
Chỉ riêng phần nợ đó đều có ở nhiều ngân hàng thương mại, song không hẳn tất cả đều được phản ánh ở tỷ lệ nợ xấu, hay công bố một cách cụ thể.
Gửi ở tương lai…
Cũng có những khoản nợ khó thu hồi, song trước ngày chốt số lập báo cáo tài chính, ngân hàng đã kịp “đổi đời” cho nó. Đây chủ yếu là khoản tiền gửi - cho vay giữa các ngân hàng với nhau, khó khăn và chất lượng của nó cũng không có ở những tỷ lệ nợ xấu được báo cáo “đẹp”, dù không lẩn khuất.
Tại mùa đại hội cổ đông đầu năm nay, số phận những khoản nợ đó xuất hiện trong chất vấn của cổ đông tới lãnh đạo một số ngân hàng. Ghi nhận câu trả lời chung chung là, các bên đang đàm phán để xử lý, cơ cấu lại…
Cũng tại báo cáo tài chính của ACB, khoản 772 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn tại một ngân hàng nọ cũng đã được gia hạn thêm 24 tháng chỉ vài ngày trước thời điểm chốt sổ 30/6/2013. Hai bên đang thương thảo việc thu hồi và ACB không lập dự phòng cho khoản này.
Hay một khoản tiền gửi có kỳ hạn trị giá 1.193 tỷ đồng tại một ngân hàng khác, ngày 10/6/2013 ACB cũng đã ký hợp đồng chuyển thành khoản cho vay. Ngân hàng tin tưởng sẽ thu hồi được nên cũng không lập dự phòng cho khoản này.
Nợ khó thu hồi lòng vòng trong hệ thống như vậy, “xấu” không chỉ riêng ở ngân hàng báo cáo và thuyết minh mà còn phản ánh khó khăn ở những ngân hàng liên quan. Việc cơ cấu lại đồng nghĩa với việc gửi cái xấu và khó khăn đó cho tương lai, mà không phản ánh ở tỷ lệ nợ xấu công bố hiện tại.
Tương tự, đã hơn một năm các tổ chức tín dụng được thực hiện cơ cấu lại nợ cho các doanh nghiệp khó khăn nhưng có triển vọng phục hồi và trả nợ, theo Quyết định 780 của Ngân hàng Nhà nước. Tính đến cuối tháng 4/2013, có 284,4 nghìn tỷ đồng được cơ cấu lại theo cơ chế này và điểm chung là được giữ nguyên nhóm.
Một phần nợ xấu thực tế vẫn nằm ở đó, chỉ có điều là không có tỷ lệ đo lường cụ thể mức độ xấu đi trong 284,4 nghìn tỷ đồng đến nay như thế nào. Nếu chúng tiếp tục xấu đi sau khi đã được cơ cấu, thì trong tương lai gần các ngân hàng cũng sẽ phải chính thức nhận về.




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.