Theo báo cáo của Bộ Công Thương, trong tháng 2/2023, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ước đạt 25,88 tỷ USD, tăng 9,8% so với tháng 1/2023. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 6,08 tỷ USD, tăng 11,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 19,8 tỷ USD, tăng 9,3%.
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 02/2023 tăng 11%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 5,7%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 12,7%.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2023, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 96 tỷ USD, giảm 13,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó xuất khẩu hàng hoá ước đạt 49,49 tỷ USD, giảm 10,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước giảm gần 21,1%, đạt 11,52 tỷ USD; khối doanh nghiệp FDI (bao gồm dầu thô) giảm 6,6%, đạt 37,92 tỷ USD. Nhập khẩu 2 tháng giảm 16%, đạt 46,62 tỷ USD.
Trong hai tháng đầu năm 2023 có 8 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 69,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 3 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 45,9%).
Giá hàng hóa xuất khẩu trong 2 tháng đầu năm ghi nhận sự sụt giảm ở hầu hết mặt hàng đã góp phần giảm tăng trưởng xuất khẩu chung. Giá xuất khẩu bình quân các mặt hàng nông sản như nhân điều, cà phê, sắn và sản phẩm từ sắn giảm lần lượt là 3,7%, 1,7% và 8,5% so với cùng kỳ năm ngoái (giá hạt tiêu giảm tới 31,4%, cao su giảm 20,6%).
Giá các mặt hàng công nghiệp chế biến cũng giảm khá mạnh như phân bón giảm 25,5%, chất dẻo nguyên liệu giảm 24,8%, sắt thép giảm 32%. Tuy nhiên, giá một số mặt hàng như gạo, xăng dầu, than đá, chè có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm ngoái.
Xuất khẩu của nhiều mặt hàng nhóm “tỷ USD” giảm khá mạnh so với cùng kỳ như: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ước đạt 6,87 tỷ USD, giảm 13,9%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng ước đạt 6,4 tỷ USD, giảm 1,6%; hàng dệt may ước đạt 4,55 tỷ USD, giảm 19,6%; giày dép các loại ước đạt 2,76 tỷ USD, giảm 15,8%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 34,8%...
Đối với thị trường xuất khẩu, trong 2 tháng đầu năm, xuất khẩu của Việt Nam tới hầu hết các thị trường chủ lực đều giảm mạnh so với cùng kỳ. Mặc dù Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 13,1 tỷ USD nhưng giảm 21% so với cùng kỳ.
Xuất khẩu sang EU đạt 6,9 tỷ USD, giảm 4,2%. Với mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ, Hoa Kỳ, EU sẽ tiếp tục giảm nhu cầu nhập khẩu do những ảnh hưởng từ lạm phát, suy thoái kinh tế, niềm tin tiêu dùng thấp. Dù được hưởng lợi từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nhưng tiêu chuẩn kỹ thuật, hợp chuẩn, yêu cầu chứng minh nguồn gốc gỗ… mà phía EU đặt ra là những vấn đề không dễ vượt qua.
Kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN đạt 4,6 tỷ USD, giảm 8%; Hàn Quốc đạt 3,5 tỷ USD, giảm 5,7%; Nhật Bản đạt 3,2 tỷ USD, giảm 5,9%... Nguồn cung dồi dào, lượng hàng tồn kho cao tại các thị trường đặc biệt là Nhật Bản và Hàn Quốc dẫn đến xu hướng các đơn hàng chậm lại và mức giá xuất khẩu gỗ nguyên liệu giảm. Thị trường Trung Quốc dù đã mở cửa trở lại nhưng chuỗi cung ứng nội địa chưa hoàn toàn hồi phục, ẩn chứa nhiều rủi ro.
Các doanh nghiệp nhập khẩu thủy sản ở các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU, Anh… có xu hướng giảm lượng tồn kho để tối ưu hóa chi phí trong bối cảnh lạm phát tăng cao khiến người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu hơn trước.
Riêng đối với thị trường Trung Quốc, với chính sách mở cửa trở lại từ đầu năm 2023 sau gần ba năm thực hiện chính sách “Zero Covid” đã tác động tích cực đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc trong 2 tháng đầu năm đạt 8,2 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), xuất khẩu của các ngành hàng thực sự khó khăn do sức mua trên toàn thế giới giảm. Số đơn hàng giảm trên 60%, chỉ bằng 1/3 so với các năm trước. Như mọi năm đa số các đơn hàng ký từ đầu năm cho đến cuối thu nhưng năm nay chỉ nhận được đơn hàng 6 tháng đầu năm, đặc biệt số đơn hàng lớn rất ít.
Nguyên nhân do kinh tế suy thoái chưa có dấu hiệu phục hồi, nhiều thị trường lớn khó khăn, tâm lý người tiêu dùng tập trung vào mua hàng hoá thiết yếu…
Tuy nhiên, nhiều dự báo cho rằng năm 2023 kinh tế thế giới sẽ không rơi vào suy thoái nặng nề. Một số nền kinh tế lớn sẽ hạ cánh mềm. Những tháng cuối năm 2023 kinh tế thế giới sẽ đi vào hồi phục và sẽ đạt mức tăng trưởng khả quan. Khi đó sức mua, thương mại quốc tế sẽ sôi động hơn. Để đón đầu theo ông Phú, cần theo dõi chặt chẽ những diễn biến mới trên thế giới thông qua các tham tán, thương vụ.
Đồng tình, ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), đánh giá rằng trong 2 tháng đầu năm có một số nhóm hàng sụt giảm đáng kể như thuỷ sản, hạt điều, cà phê, gạo, cao su… xu hướng này chưa thể sớm chấm dứt khi xung đột Nga – Ukraine chưa có dấu hiệu dừng lại. Vì thế, cần tìm giải pháp tháo gỡ, phối hợp hành động cả đơn vị trong và ngoài nước. Thời gian tới cần có kế hoạch xúc tiến xuất khẩu mang tính tổng thể hơn.
Cũng theo Bộ Công Thương, cần đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa ngành hàng để giảm bớt sự phụ thuộc vào các thị trường/ngành hàng truyển thống. Cụ thể, phát triển các thị trường khu vực bắc Âu, đông Âu, Mỹ La Tinh tuy nhỏ nhưng đang có tốc độ tăng trưởng cao và còn nhiều dư địa khai thác. Tranh thủ sự hồi phục nhanh của các thị trường khu vực Asean và một số nước châu Á để đẩy mạnh xuất khẩu.
Ông Đặng Việt Phương, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Phú Thọ, chia sẻ rằng chè xuất khẩu đi Nga bị đình trệ hoàn toàn, thậm chí có container hàng đã đến cảng chuẩn bị vận chuyển phải quay về do ảnh hưởng từ xung đột Nga - Ukraine. Sau khi hoạt động vận chuyển được mở lại, doanh nghiệp lại gặp trục trặc về thanh toán.
Trước những khó khăn trên, để gỡ khó đầu ra cho cây chè, năm 2023, Phú Thọ xác định đưa chè và chuối xuất khẩu sang một số thị trường, trong đó mục tiêu lớn nhất là Bangladesh, do thị trường Bangladesh có 160 triệu dân, nhu cầu tiêu dùng rất lớn.
Do đó, ông Phương mong muốn các thương vụ, tham tán thương mại Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ giới thiệu sản phẩm chè của địa phương nói riêng, của vùng Đông Bắc nói chung.
Đồng thời, mời đại diện Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài như Ấn Độ, Nga, Irac, Ả rập Xê Út… tham dự hội nghị chuyên đề về xuất khẩu chè, dự kiến tổ chức ngày 24/4/2023 do tỉnh đăng cai.
Ngày 26/6/1986, dòng dầu thương mại đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ được khai thác, mở ra một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử ngành dầu khí Việt Nam.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số, Việt Nam tập trung quyết liệt cải cách thể chế, giảm 50% thủ tục hành chính và số hóa hạ tầng thương mại. Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển nguyên liệu nội địa cùng chiến lược đa dạng hóa thị trường là những giải pháp cốt lõi giúp nâng cao năng lực tự chủ, tạo đà bứt phá bền vững cho doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu…
Dự thảo Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu tập trung tái cơ cấu hệ thống phân phối, cắt giảm khâu trung gian và bắt buộc số hóa dữ liệu. Việc hoàn thiện khung pháp lý này nhằm minh bạch hóa thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng và duy trì nguồn cung ổn định cho nền kinh tế trong mọi tình huống…
TP.Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh giám sát các mối nguy ngay trong quá trình lưu thông, kinh doanh thực phẩm trên thị trường, thay vì chờ phát hiện vi phạm hay xử lý khi xảy ra ngộ độc thực phẩm. Từ lấy mẫu kiểm nghiệm, cảnh báo sớm đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm, Thành phố hướng tới xây dựng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm chủ động hơn, kiểm soát rủi ro ngay từ các mắt xích của chuỗi cung ứng.
Từ quy mô nhỏ, Hợp tác xã Nông ngư Hòa Đê đã bứt phá nhờ mô hình tôm - lúa hữu cơ và đẩy mạnh chế biến sâu. Không chỉ nâng cao giá trị nông sản, hợp tác xã còn tích cực thúc đẩy an sinh xã hội, phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế địa phương.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.