Đề xuất chuyển sang phương pháp tính thuế khoáng sản kim loại dựa trên sản phẩm đầu ra
NNhĩ Anh
Chọn cỡ chữ
Quy định phương pháp thu thuế theo đầu vào của quá trình chế biến khoáng sản như hiện nay chưa nhận diện và phân biệt giữa sản phẩm tài nguyên nguyên khai với sản phẩm đã qua chế biến. Việc thay đổi tính thuế theo doanh thu đầu ra cho phép nhận diện rõ ràng, minh bạch từng loại sản phẩm và phân định chính xác các cấp độ chế biến sâu trong chuỗi giá trị. Sản phẩm khoáng sản càng được ứng dụng công nghệ cao để chế biến sâu, tinh khiết thì thuế suất áp dụng càng thấp....
Với đề xuất chuyển cách tính thuế tài nguyên khoáng sản kim từ đầu vào sang đầu ra, những doanh nghiệp chế biến sâu sẽ được hưởng lợi. Ảnh minh họa: T.Hội
Luật Thuế tài nguyên được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2009, (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2010) qua quá trình triển khai đã đạt được một số kết quả nhất định. Luật đã tạo cơ sở pháp
lý quan trọng trong việc triển khai thực hiện thu thuế tài nguyên và góp phần
nâng cao vai trò của thuế tài nguyên là công cụ tài chính quan trọng trong quản
lý và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước.
Bên cạnh kết quả, dự thảo tờ trình dự án Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Thuế tài nguyên, đang được lấy ý kiến, Bộ Tài chính
cho biết trong quá trình triển khai thực hiện Luật Thuế tài nguyên đã phát
sinh một số tồn tại.
NHỮNG HẠN CHẾ TỪ PHƯƠNG PHÁP THU THUẾ THEO ĐẦU VÀO CỦA QUÁ
TRÌNH CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN
Mặc dù đã hoàn thành tốt vai trò quản lý trong giai đoạn trước,
nhưng với những đòi hỏi mới của chiến lược phát triển bền vững, khung khổ pháp
lý của Luật Thuế tài nguyên hiện hành dường như đã đi hết dư địa điều tiết,
chưa tạo ra đủ không gian chính sách và đòn bẩy kinh tế cần thiết để doanh nghiệp
đầu tư công nghệ tiên tiến hướng tới chế biến sâu,
Luật Thuế tài nguyên quy định phương pháp thu thuế theo đầu
vào của quá trình chế biến khoáng sản (thu đối với quặng thô) và thuế suất cố định
theo nhóm, loại tài nguyên nguyên khai. Luật chưa có quy định về điều tiết theo
mức độ khai thác chế biến khoáng sản (tăng dần từ sản phẩm tinh đến sản phẩm
thô).
Theo Bộ Tài chính, với quy định phương pháp thu thuế theo đầu
vào của quá trình chế biến khoáng sản đã dẫn đến việc chưa nhận diện và phân biệt
giữa sản phẩm tài nguyên nguyên khai với sản phẩm đã qua chế biến, cũng như
chưa có cơ chế định lượng các mức độ chế biến khác nhau trong chuỗi giá trị.
Thậm chí, việc áp dụng phương pháp quy đổi sản lượng tính thuế tài nguyên đối với sản phẩm chế biến sâu (sản phẩm khác) về sản lượng tài nguyên trước khi đưa vào chế biến thông qua định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm thường mang tính cào bằng, không bóc tách được chính xác giá trị gia tăng thực tế từ công nghệ tiên tiến.
Thêm vào đó, Luật thuế hiện hành chưa có cơ chế phân loại
thuế suất linh hoạt theo mức độ chế biến, vô hình trung tạo ra một “rào cản
kinh tế” đối với xu hướng phát triển bền vững. Khi thuế suất bị “đóng băng” cố
định bất kể sản phẩm đầu ra là quặng thô hay tinh quặng, cho dù đã trải qua quy
trình chế biến phức tạp, các doanh nghiệp không thấy được lợi ích tài chính trực
tiếp từ việc tối ưu hóa chuỗi giá trị.
Việc đầu tư vào các dây chuyền công nghệ tiên tiến, hiện đại
thường đòi hỏi chi phí vốn lớn và rủi ro
vận hành cao. Do vậy, với quy định của chính sách thuế tài nguyên hiện hành,
doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn giải pháp an toàn là khai thác thô hoặc chỉ
chế biến ở mức độ nhất định để nhanh chóng thu hồi vốn.
Trong khi đó, tại Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 10/02/2022, Bộ
Chính trị đã chỉ rõ chủ trương “điều chỉnh thuế suất thuế tài nguyên đối với một
số khoáng sản nhằm khuyến khích đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại để khai
thác, chế biến”. Do đó, cần điều chỉnh
phương pháp đánh thuế theo đầu ra của quá trình chế biến và quy định về thuế suất
theo mức độ chế biến để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ hiện đại thực
hiện chế biến sâu khoáng sản.
Bên cạnh đó, tờ trình dự án luật cũng chỉ ra dự thay đổi
trong pháp luật chuyên ngành như Luật Địa chất và Khoáng sản, Luật Hải quan, Luật
Tài nguyên nước,… Điều này dẫn đến một số nội dung quy định tại Luật Thuế tài
nguyên không còn thống nhất với các Luật chuyên ngành, không đảm bảo tính thống
nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
NHẬN DIỆN RÕ RÀNG,
MINH BẠCH TỪNG SẢN PHẨM, PHÂN ĐỊNH CHÍNH XÁC CẤP ĐỘ CHẾ BIẾN SÂU TRONG
CHUỖI GIÁ TRỊ
Từ thực tế nêu trên, Bộ Tài chính cho rằng việc sửa
đổi, bổ sung Luật Thuế tài nguyên là cần thiết. Dự thảo luật đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quy định
mới. Việc bổ sung quy định “Thuế suất cụ thể đối với khoáng sản kim loại được
quy định theo mức độ chế biến khoáng sản” nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng
“điều chỉnh thuế suất thuế tài nguyên đối với một số khoáng sản nhằm khuyến
khích đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại để khai thác, chế biến” tại Nghị quyết
số 10-NQ/TW.
Luật Thuế tài nguyên hiện hành quy định đối tượng chịu thuế
gồm 9 nhóm tài nguyên, bao gồm 08 nhóm tài nguyên được định danh cụ thể và 01
nhóm tài nguyên khác. Về cơ bản, Luật chưa quy định về điều tiết mức thuế nhằm
khuyến khích đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại để khai thác, chế biến.
Tại Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị có nêu “điều chỉnh
thuế suất thuế tài nguyên đối với một số khoáng sản nhằm khuyến khích đầu tư
công nghệ tiên tiến, hiện đại để khai thác, chế biến”. Thực hiện chủ trương
này, Bộ Tài chính đề xuất áp dụng thuế theo mức độ chế biến đối với nhóm khoáng
sản kim loại nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến tiên tiến,
hiện đại, thay vì dàn dải áp dụng đối với toàn bộ tài nguyên thuộc đối tượng điều
chỉnh của Luật hiện nay.
Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại để khai thác, chế biến. Ảnh minh họa (Tiến Phong- hethongphapluat.com)
Phân tích cơ sở lựa chọn thiết kế chính sách về điều tiết mức
thuế, cơ quan soạn thảo cho rằng về vai trò chiến lược trong chuỗi giá trị toàn
cầu, khoáng sản kim loại là nguồn nguyên liệu đầu vào cốt lõi, không thể thay
thế cho các ngành công nghiệp chế biến chế tạo then chốt và các ngành công nghiệp
công nghệ cao (như sản xuất bán dẫn, xe điện, năng lượng tái tạo). Việc chế biến
sâu nhóm này tạo ra biên độ gia tăng giá trị thặng dư vượt trội, đóng vai trò
quyết định trong việc dịch chuyển vị thế của nền kinh tế Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Về đặc thù kinh tế- kỹ thuật của ngành, hoạt động thăm dò,
khai thác và đặc biệt là luyện kim, chế biến sâu khoáng sản kim loại đòi hỏi suất
vốn đầu tư rất lớn với chu kỳ thu hồi vốn dài, đi kèm rủi ro vận hành và yêu cầu
công nghệ phức tạp hơn gấp nhiều lần so với khoáng sản làm vật liệu xây dựng
thông thường. Với chính sách thuế mang tính kiến tạo, sử dụng đòn bẩy thuế suất
để hỗ trợ, chia sẻ rủi ro, doanh nghiệp sẽ có đủ động lực và tiềm lực để từ bỏ
phương thức khai thác thô rủi ro thấp nhưng gây lãng phí tài nguyên.
Ngoài ra, các sản phẩm kim loại, hợp kim sau chế biến sâu
là nền tảng vững chắc để tự chủ sản xuất quốc phòng, bảo đảm an ninh kinh tế,
an ninh năng lượng và độc lập công nghệ của đất nước.
Do đó, việc khu biệt
chính sách thuế tài nguyên lũy thoái theo mức độ chế biến đối với khoáng sản
kim loại chính là giải pháp then chốt để tập trung nguồn lực quốc gia, chuyển
hóa tài nguyên thiên nhiên thành nội lực kỹ thuật bền vững; cùng với các giải
pháp hành chính, kinh tế khác ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác, xuất bán
khoáng sản thô.
Trên cơ sơ nguyên tắc mới được đề xuất bổ sung, Chính phủ sẽ quy định cụ thể mức thuế theo mức độ chế biến. Mức thuế suất cao nhất (áp dụng mức thuế hiện hành) áp dụng đối với khoáng sản nguyên khai (quặng thô) được khai thác và đem bán ngay. Mức thuế suất thấp hơn áp dụng đối với quặng tinhchưa đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn xuất khẩu (quặng tinh được tạo ra từ quặng thô đưa vào chế biến). Mức thuế suất thấp hơn 02 trường hợp trên áp dụng đối với quặng tinh đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn xuất khẩu.
Trong dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất chuyển đổi sang phương
pháp tính thuế đối với khoáng sản kim loại dựa trên sản phẩm đầu ra (doanh thu
của từng loại khoáng sản thương phẩm thuộc đối tượng chịu thuế) kết hợp với biểu
thuế suất lũy tiến, lũy thoái theo cấp độ chế biến.
Việc thay đổi phương pháp luận tính thuế theo doanh thu đầu
ra cho phép hệ thống quản lý thuế nhận diện rõ ràng, minh bạch từng loại sản phẩm
và phân định chính xác các cấp độ chế biến sâu trong chuỗi giá trị. Trên cơ sở
đó, Nhà nước sẽ có đủ dư địa và không gian chính sách để hiện thực hóa chủ
trương của Đảng tại Nghị quyết số 10-NQ/TW thông qua việc sử dụng công cụ thuế
suất làm đòn bẩy kinh tế: sản phẩm khoáng sản càng được ứng dụng công nghệ cao
để chế biến sâu, tinh khiết thì thuế suất áp dụng càng thấp.
Không chỉ dừng lại ở việc tạo động lực kinh tế, việc đổi mới
phương pháp tính thuế dựa trên doanh thu đầu ra còn loại bỏ hoàn toàn các thủ tục
quy đổi phức tạp, vốn thường tạo ra những cách hiểu khác nhau về việc xác định
sản lượng thô và tỷ lệ tổn thất hàm lượng sau chế biến.
Đặc biệt, đối với quặng
đa kim phức tạp chứa nhiều thành phần kim loại và khoáng sản đi kèm, việc thu
thuế dựa trên doanh thu thương phẩm đầu ra của từng chất sẽ giúp cơ quan quản
lý định lượng chính xác giá trị thực tế của từng loại tài nguyên được thu hồi.
Quy định này vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ
chế biến tiên tiến, hiện đại, vừa tạo sự minh bạch, giảm chi phí tuân thủ pháp
luật và loại bỏ rủi ro pháp lý cho các doanh nghiệp đầu tư bài bản.
Việc thay đổi phương pháp tính thuế đầu ra cũng sẽ xử lý được
những vướng mắc thời gian qua trong việc xác định sản lượng tính thuế và hàm lượng
của từng loại khoáng sản sau khi quy đổi từ sản phẩm sau chế biến về tài nguyên
trước khi chế biến, cũng như xác định giá tính thuế tài nguyên đối với từng loại
khoáng sản có trong quặng đa kim.
Về quy định cách xác định doanh thu tính thuế nhằm đồng bộ,
đảm bảo cho phương pháp tính thuế tài nguyên dựa trên doanh thu đầu ra và biểu
thuế suất lũy tiến vận hành một cách khả thi, minh bạch. Hệ thống quy định đồng
bộ này không chỉ bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước trước các hành vi lợi dụng
chính sách, mà còn kiến tạo một môi trường pháp lý minh bạch, bình đẳng, giúp
các doanh nghiệp khai thác khoáng sản chân chính yên tâm đầu tư công nghệ dài hạn.
Với mục tiêu giảm ít nhất 15% phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực trồng trọt vào năm 2035, TP. Hồ Chí Minh sẽ triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy sản xuất phát thải thấp, xây dựng nhãn hiệu "Phát thải thấp" và ứng dụng các mô hình canh tác bền vững...
Biến đổi khí hậu đang khiến cháy rừng xảy ra thường xuyên và dữ dội hơn, kéo theo những đám khói độc lan xa hàng nghìn km. Các nghiên cứu mới cho thấy khói cháy rừng không chỉ gây ô nhiễm không khí mà còn làm gia tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh nguy hiểm và tử vong sớm…
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Việt Nam tham gia Triển lãm Xanh Thế giới 2027 tại Yokohama (Nhật Bản) với nhiều hoạt động không chỉ là xúc tiến thương mại mà còn góp phần khẳng định hình ảnh Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững...
Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành đã quy định cụ thể về phương pháp định giá rừng, hướng dẫn định khung giá rừng và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng…
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) kết hợp với mạng lưới đường sắt đô thị (metro) là chiến lược cốt lõi để giải quyết ùn tắc và tái cấu trúc không gian. Mô hình này tập...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...