Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh trả lời báo giới trước những lo ngại giá cả sẽ “bùng nổ” sau thời điểm 1/6.
Sẽ đưa giá trở lại giá thị trường
Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng, việc kiềm chế giá một số mặt hàng đến thời điểm 1/6 là trái với quy luật thị trường và nó sẽ tiềm ẩn nhiều vấn đề mà chúng ta không thể lường trước được?
Nền kinh tế của chúng ta vận hành theo cơ chế thị trường, trong đó quan trọng nhất là giá. Chính vì vậy, nếu phải bán dưới giá thành chẳng ai muốn sản xuất làm gì. Hiện nền kinh tế của chúng ta đang có dấu hiệu giá cả và lạm phát ngày một leo thang, nên buộc Chính phủ phải miễn cưỡng dùng biện pháp hành chính để kìm giá của một số nhóm, mặt hàng (mặc dù mặt bằng giá thế giới và trong nước đang tăng mạnh).
Tuy nhiên, Chính phủ cũng xác định việc kìm giá cũng không thể thực hiện được quá lâu bởi nếu như vậy sẽ trái với quy luật thị trường. Trong thời gian tới, nếu lạm phát được kìm chế ở một mức độ nhất định, chắc chắn Chính phủ sẽ xem xét để đưa giá các mặt hàng này trở về với giá trị trường.
Còn việc nền kinh tế của chúng ta sẽ như thế nào trong thời gian tới thì cũng không ai dám khẳng định điều gì, nhưng chắc chắn nó sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự điều hành của Chính phủ.
Nhưng sau tháng 6, khi các mặt hàng thiết yếu được phép tăng giá, liệu chúng ta sẽ phải đối mặt với một cơn sốt giá mạnh hơn, thưa Bộ trưởng?
Thật ra, đối với nhiều mặt hàng, nếu Chính phủ không tiến hành bù khoản lỗ rất lớn cho các doanh nghiệp thì chắc chắn giá còn tăng cao hơn mức hiện nay.
Điều này là không đúng với cơ chế thị trường, song do lạm phát cao nên buộc Chính phủ vẫn phải chung lưng gánh vác cùng doanh nghiệp. Nhưng về lâu dài, chắc chắn việc hỗ trợ giá sẽ được bãi bỏ.
Chẳng hạn, hiện Chính phủ đang phải bù lỗ 1.000 đồng/lít xăng và hơn 3.000 đồng/lít dầu nên giá xăng dầu trong nước thấp hơn các nước láng giềng như Lào, Campuchia. Kết quả là xăng dầu trong nước đang bị buôn bán ồ ạt qua biên giới và Nhà nước lại phải chịu thiệt.
Tuy nhiên, khi tình hình lạm phát đã ổn định và có thể kiểm soát được ở mức độ nào đó thì Chính phủ sẽ phải có lộ trình trả lại giá thị trường. Chính phủ không thể bao cấp tràn lan như thế được vì ngân sách cũng có hạn.
Do đó, nếu sau thời điểm tháng 6 và cả sau này nữa, khi Chính phủ không bù lỗ nữa và giá cả có tăng lên thì cũng là theo thị trường. Tất nhiên là cái gì cũng phải có giới hạn của nó và đương nhiên là Chính phủ sẽ phải có những biện pháp để có thể tránh được sự bùng nổ về giá.
Bộ Tài chính đã có danh sách những mặt hàng nào được tăng giá sau tháng 6 chưa, thưa Bộ trưởng?
Hiện nay chúng tôi đang tính toán và sẽ báo cáo Chính phủ trong thời gian tới. Còn danh sách các mặt hàng thì chưa thể công bố bây giờ được vì sẽ không có lợi cho tình hình chung.
Bội chi vẫn ở ngưỡng an toàn
Bội chi ngân sách đang được xem là một trong những tác nhân chính dẫn đến lạm phát. Quan điểm của Bộ trưởng về vấn đề này như thế nào?
Vấn đề bội chi ngân sách không phải là chuyện của riêng chúng ta mà hầu hết các nước gặp phải tình trạng này. Tuy nhiên, điều quan trọng là khoản bội chi ấy dùng làm gì và nó có phát huy hiệu quả hay không.
Bội chi của chúng ta hiện nay chủ yếu là chi cho các lĩnh vực liên quan đến đầu tư. Vì vậy, Chính phủ xác định, tất cả những khoản bội chi dùng cho đầu tư nhưng không hiệu quả mới gây lạm phát, còn nếu được dùng cho đầu tư hiệu quả thì không vấn đề gì.
Đó cũng chính là lý do khiến Chính phủ kiên quyết rà soát lại các dự án lãng phí, chậm tiến độ…để tránh thất thoát ngân sách nhà nước.
Như vậy có nghĩa là chúng ta không cần cắt giảm bội chi ngân sách mà chỉ cần giám sát làm sao để các dự án có hiệu quả, thưa Bộ trưởng?
Theo tôi thì không hẳn thế, bởi nếu giảm được bội chi ngân sách thì tốt quá. Nhưng nếu cần thiết thì chúng ta có thể đi vay, bởi theo tôi thì nhiều khi đi vay cũng là một cơ hội cho phát triển. Nếu những khoản vay nằm trong giới hạn an ninh tài chính quốc gia cho phép thì có thể tăng vay để đẩy nhanh tốc độ đầu tư cho cơ sở hạ tầng trong bối cảnh kỹ thuật hạ tầng của ta còn yếu kém như hiện nay thì có khi lại là điều tốt.
Hiện nay, bội chi ngân sách của Việt Nam đang nằm trong ngưỡng an toàn an ninh tài chính, tức là trong khoảng giới hạn 5% GDP và các khoản vay hiện nay đều có khả năng thanh toán. Nếu vay mà không trả được thì mới là đáng lo, bởi nó sẽ dẫn đến đổ vỡ nền tài chính.
Chính vì vậy ,để đẩy lùi lạm phát thì cần phải kết hợp rất nhiều biện pháp chứ không chỉ là việc nâng cao hiệu quả các dự án. Nếu tất cả các biện pháp đều phát huy tác dụng thì chắc chắn bội chi ngân sách cũng sẽ giảm và lạm phát cũng theo đó mà đi xuống.
Bộ trưởng vừa nói bội chi ngân sách của chúng ta là 5% GDP, nhưng theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì bội chi ngân sách của Việt Nam là 6,6% GDP, tức là đã vượt ngưỡng an toàn. Xin Bộ trưởng lý giải điều này?
Số liệu của IMF đưa ra vừa đúng vừa không đúng, bởi cách tính của họ có khác với chúng ta. Tuy nhiên, tôi dám khẳng định rằng, bội chi ngân sách của chúng ta vẫn nằm trong ngưỡng an toàn, tức là vẫn trong giới hạn cho phép là 5%.
Trong bối cảnh cả nước nỗ lực tháo gỡ cảnh báo “thẻ vàng” thủy sản của EC, Quảng Trị tiếp tục siết chặt quản lý hoạt động khai thác trên biển, đồng thời đầu tư mạnh cho công tác phục hồi hệ sinh thái biển...
Giá xuất khẩu hạt điều của Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức cao trong tháng 5/2026, góp phần giúp kim ngạch xuất khẩu vượt 528 triệu USD. Tuy nhiên, những biến động địa chính trị tại Trung Đông đang tạo ra nhiều thách thức đối với ngành điều, buộc Vinacas phải điều chỉnh giảm mục tiêu xuất khẩu trong năm nay xuống 5 tỷ USD.
Việc triển khai các dự án tại lô 10/11, 10&11-1 và mỏ Sư Tử Trắng giai đoạn 2B được kỳ vọng góp phần gia tăng trữ lượng, bổ sung nguồn cung khí cho sản xuất điện và mở rộng dư địa phát triển cho ngành năng lượng trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng cao.
Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.