
Trong 20 năm vận hành, Nhà máy Xử lý khí Dinh Cố (GPP Dinh Cố) đã sản xuất 5,9 triệu tấn LPG, 1,83 triệu tấn condensate, xử lý tổng cộng 33,2 tỷ mét khối khí góp phần bảo đảm an ninh năng lượng cho khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.
Hai mươi năm trước, ngày 9/7/1999, Nhà máy Xử lý khí Dinh Cố (GPP Dinh Cố) - trái tim của Đề án khí Bạch Hổ - Phú Mỹ được khánh thành và đi vào vận hành chính thức. Đây là mốc thời gian đáng nhớ đối với nhiều thế hệ người lao động của Công ty Chế biến khí Vũng Tàu (KVT) và lịch sử phát triển của Tổng công ty khí Việt Nam (PV GAS).
Tổng giám đốc PV GAS, ông Dương Mạnh Sơn chia sẻ, cách đây 20 năm, GPP Dinh Cố là công trình trên bờ đầu tiên của PV GAS với công nghệ hiện đại, hàm lượng khoa học - kỹ thuật cao, bắt đầu đi vào vận hành chính thức với rất nhiều khó khăn, thách thức. Nhưng tập thể của GPP Dinh Cố dưới sự chỉ đạo của PV GAS đã xây dựng những giải pháp cụ thể và phù hợp để vượt qua khó khăn.
Cụ thể, tính từ thời điểm đó tới nay, GPP Dinh Cố đã trải qua nhiều thay đổi, cải tiến (hiện đang vận hành với 120% công suất thiết kế ban đầu), xử lý tổng cộng 33,2 tỷ mét khối khí đồng hành từ các mỏ khí thuộc bể Cửu Long, bể Nam Côn Sơn góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng cho khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Trong 20 năm vận hành, Nhà máy cũng đã sản xuất ra 5,9 triệu tấn LPG, 1,83 triệu tấn condensate.
Mặc dù được giao nhiệm vụ quản lý vận hành nhiều công trình khí có độ phức tạp cao về khoa học - công nghệ và mức rủi ro lớn, nhưng cho đến nay, sau 20 năm, GPP Dinh Cố chưa để xảy ra một sự cố nghiêm trọng nào về tài sản, môi trường cũng như thiệt hại về con người; số sự cố kỹ thuật ngày càng giảm trong khi tuổi thọ công trình ngày một cao.
Theo đó, văn hóa an toàn tại đây được xây dựng dựa trên nền tảng cơ bản bao gồm phần cứng và phần mềm. Trong đó, phần cứng là hàng rào kỹ thuật để hạn chế sự cố và bảo đảm an toàn: Hệ thống dây chuyền thiết bị sản xuất khép kín hiện đại; hệ thống thiết bị bảo đảm an toàn; phương tiện bảo vệ cá nhân đầy đủ, đạt chuẩn và tự động hóa hiện đại; các thiết bị luôn được bảo dưỡng, kiểm định hiệu chuẩn đúng quy định nhằm bảo đảm hoạt động tin cậy và an toàn.
Còn phần mềm là hệ thống quản lý an toàn, chất lượng, môi trường theo tiêu chuẩn ISO, là cam kết mạnh mẽ và có tính khích lệ cao của lãnh đạo, là ý thức tuân thủ các quy định an toàn của tập thể người lao động công ty.
Vào thời điểm được giao tiếp quản thì GPP Dinh Cố là công trình khí được xem là hiện đại và có mức tự động hóa cao. Trong khi đó, con người là chủ thể quản lý công trình phần lớn lại chưa có kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực này, nên đội ngũ vận hành nhà máy lúc bấy giờ không thể tránh khỏi những bỡ ngỡ, áp lực. Không chỉ vậy, với các dự án mới đưa vào hoạt động thì giai đoạn ban đầu thường hay xuất hiện các sự cố hỏng hóc.
Trên thực tế, công trình Dinh Cố cũng thường xuyên phát sinh hỏng hóc. Bài toán đầu tiên phải đối mặt là khắc phục và kiểm soát các tình huống hỏng hóc phát sinh đột xuất ở các cụm thiết bị quan trọng có ảnh hưởng đến việc duy trì cấp khí liên tục và chế biến sản phẩm lỏng.
Các kỹ sư chuyên môn của PV GAS Vũng Tàu đã làm việc với lòng quyết tâm cao độ, vừa cần mẫn bám sát thiết bị vừa nghiên cứu tài liệu nhà sản xuất nên nhờ thế, các khó khăn thách thức ban đầu từng bước được khắc phục và kiểm soát.
Song song với việc giải quyết các hỏng hóc thiết bị phát sinh mang tính tình huống, đội ngũ kỹ sư công nhân lúc bấy giờ đã thiết lập chế độ bảo dưỡng thiết bị theo tần suất và giờ máy, theo đó hệ thống quy trình bảo dưỡng được biên soạn và áp dụng trên cơ sở tham khảo tài liệu nhà sản xuất kết hợp định kỳ cập nhật các nội dung theo kinh nghiệm thực tế.
Như vậy các vấn đề khó khăn ban đầu cơ bản được giải quyết và đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy thiết bị phục vụ sản xuất. Tuy nhiên khó khăn không dừng lại mà công trình tiếp tục phát sinh các thách thức mới sau thời gian 5-7 năm, sau 10 năm hoạt động.
Các vấn đề phát sinh mới về sau càng phức tạp, nhưng mọi khó khăn thử thách không thể làm nản lòng các kỹ sư chuyên môn của KVT. Bằng tâm huyết nghề nghiệp và tinh thần sáng tạo trong lao động, các vấn đề khó lần lượt được tháo gỡ bằng các giải pháp kỹ thuật hợp lý.




Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đề xuất một số định hướng hợp tác trọng tâm giữa hai quốc gia trong thời gian tới như nâng cao chất lượng hợp tác thương mại, đa dạng hóa các mặt hàng xuất nhập khẩu; thúc đẩy đầu tư và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị mới; mở rộng hợp tác trong lĩnh vực khoa học - công nghệ...
Khi những biến động từ bên ngoài tiếp tục tạo áp lực lên hoạt động xuất khẩu, thị trường nội địa ngày càng được xem là điểm tựa quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam. Việc mở rộng kênh phân phối hiện đại, kết hợp đa dạng hóa các dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng, đang góp phần tạo thêm động lực cho sức mua trong nước…
Kết quả thẩm tra và phê duyệt cập nhật Danh sách doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu vào thị trường Đài Loan là cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu ổn định, nâng cao khả năng tiếp cận và mở rộng thị phần...
Trước “sức ép kép” từ những hạn chế cấu trúc nội tại và biến động khó lường mang tính toàn cầu, việc định hình giải pháp hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây là động lực then chốt để hiện thực hóa mục tiêu đạt ít nhất 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030...
Mối quan hệ ngoại giao kéo dài hơn 55 năm giữa Việt Nam và Thụy Điển đang chuyển dịch mạnh mẽ sang một giai đoạn mới, được định hình bởi dòng vốn thương mại, đầu tư, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh. Dù bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, các doanh nghiệp Thụy Điển vẫn ghi nhận kết quả hoạt động ổn định và khẳng định cam kết gắn bó lâu dài tại thị trường Việt Nam.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.