Theo kế hoạch thực hiện Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động giai đoạn 2026 – 2030, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đề ra nhiều nhóm giải pháp xây dựng thị trường lao động Thủ đô phát triển toàn diện, bền vững và hiện đại.
Trọng tâm là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng kinh tế số, kinh tế xanh.
Thành phố đặt mục tiêu phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 75 - 80%, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 55 - 60%. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân đạt từ 7,0 - 9,5%/năm. Tỷ lệ lao động có kỹ năng công nghệ thông tin cơ bản đạt từ 80 - 90%.
Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm mới cho 180.000 lao động; duy trì tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 2,5%; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 3%.
Về phát triển hệ thống an sinh xã hội (đến năm 2030): Tỷ lệ lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội đạt 60%, trong đó, tỷ lệ nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm 10% lực lượng lao động; tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 50%; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 98% dân số.
Thành phố cũng hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống thông tin thị trường lao động, đảm bảo dữ liệu được số hóa, liên thông đồng bộ giữa các cơ quan chuyên môn, các đơn vị hành chính cấp xã và doanh nghiệp.
Đồng thời, kết nối dữ liệu thị trường lao động Thủ đô với mạng lưới quốc gia; mở rộng kết nối với các nước trong khu vực và quốc tế, đặc biệt là các thị trường lao động trọng điểm của Việt Nam tại nước ngoài.
Để đạt được các mục tiêu trên, thành phố đề ra nhiều nhóm giải pháp, như hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thị trường lao động.
Về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thích ứng với mô hình tăng trưởng mới, thành phố xác định khâu đột phá giáo dục đào tạo.
Theo đó, xây dựng Thủ đô thành trung tâm giáo dục chất lượng cao của cả nước. Chuyển đổi mạnh mẽ mô hình đào tạo từ "khả năng sẵn có" sang "đặt hàng của doanh nghiệp", trọng tâm là kỹ năng số, ngoại ngữ và tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI).
Thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động thích ứng với thay đổi và đòi hỏi mới của thị trường lao động trong quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Bên cạnh đó, thành phố sẽ chuẩn hóa dữ liệu về lao động, doanh nghiệp; thiết lập "kho dữ liệu sống", vận hành "bộ não AI" để khai thác dữ liệu việc làm, thị trường lao động trên địa bàn.
Trên cơ sở dữ liệu hệ thống, AI sẽ tự động phân tích, đánh giá nhu cầu tìm việc của lao động và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp để đưa ra "gợi ý, kết nối việc làm" giữa nhu cầu, kinh nghiệm, bằng cấp, tay nghề của lao động và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.
Một giải pháp quan trọng nữa cũng được nhấn mạnh là thúc đẩy thị trường lao động theo hướng kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Tập trung chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng ưu tiên các ngành ứng dụng công nghệ cao, công nghệ xanh, mô hình kinh tế tuần hoàn và phát thải carbon thấp.
Ưu tiên nguồn lực phát triển các hệ sinh thái công nghiệp mũi nhọn như: Công nghiệp bán dẫn, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ thông tin và công nghệ số. Chú trọng các lĩnh vực dữ liệu chiến lược như: Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (Blockchain), điện toán đám mây và Internet vạn vật (IoT).
Phấn đấu xây dựng Hà Nội từng bước trở thành Trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) của ngành công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam. Đồng thời, phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao, đóng vai trò hạt nhân dẫn dắt chuỗi cung ứng và hoạt động sản xuất của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.
Ngoài ra, thành phố cũng đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất. Kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo toàn diện; chủ động rà soát, tháo gỡ triệt để các rào cản về cơ chế, chính sách; quyết liệt cắt giảm thủ tục hành chính, giảm thiểu chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Thành phố sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận các nguồn lực sản xuất cốt lõi: Đất đai, nguồn vốn, công nghệ và nhân lực chất lượng cao.
Mục tiêu hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân quy mô lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng dẫn dắt chuỗi sản phẩm thương hiệu Việt và cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế.




Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, nhằm thống nhất trong quá trình thực hiện...
Khi tuyển dụng người lao động Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không chỉ phải thông báo nhu cầu tuyển dụng đến cơ quan, tổ chức quản lý có thẩm quyền, mà còn phải công khai thông tin tuyển dụng trên Sàn giao dịch việc làm Quốc gia, hoặc một trong các kênh thông tin hợp pháp được cho phép…
Định hướng chung là việc thực hiện chính sách cần được tính toán kỹ lưỡng, tránh để những cán bộ, giáo viên có năng lực, kinh nghiệm nghỉ việc, trong khi địa phương vẫn còn nhu cầu sử dụng...
Việc xây dựng một hệ thống dữ liệu thị trường lao động đồng bộ và chính xác không chỉ là nhiệm vụ của các trung tâm dịch vụ việc làm, mà còn cần sự tham gia tích cực từ phía doanh nghiệp và người lao động…
Danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp mới có sự xuất hiện của nhiều lĩnh vực đang có nhu cầu nhân lực trong quá trình chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, năng lượng và công nghiệp hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Robot và trí tuệ nhân tạo...
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Việt Nam hiện đã hoàn tất kết nối thanh toán QR xuyên biên giới với 6 quốc gia trong khu vực và châu Á, đang triển khai kết nối với Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ và tiếp tục triển khai mở rộng dịch vụ với các quốc gia khác trong thời gian tới.