Lãi suất tiết kiệm ngân hàng nào cao nhất tháng 8/2026?

Mặt bằng lãi suất tiết kiệm tại các ngân hàng tiếp tục ổn định trong đầu tháng 8, nhưng sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng và những điều chỉnh nhỏ lẻ ở từng kỳ hạn cho thấy cuộc đua huy động vốn vẫn chưa hạ nhiệt…

Lãi suất tiết kiệm ngân hàng nào cao nhất tháng 8/2026?. Nguồn ảnh: PL
Lãi suất tiết kiệm ngân hàng nào cao nhất tháng 8/2026?. Nguồn ảnh: PL

Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy của 30 ngân hàng tính đến ngày 7/8/2026 cho thấy mặt bằng lãi suất cơ bản duy trì ổn định so với tháng trước, song đã xuất hiện những điều chỉnh cục bộ, phản ánh áp lực cạnh tranh vốn đang dần gia tăng trong hệ thống.

Xét riêng từng kì hạn đối với từng ngân hàng, cập nhật đến ngày 7/8/2026, ở kỳ hạn 1 tháng, các ngân hàng thương mại Nhà nước và phần lớn các ngân hàng thương mại, bao gồm cả nhóm quốc doanh và cổ phần, vẫn giữ nguyên biểu lãi suất.

Điểm đáng chú ý là LPBank điều chỉnh tăng nhẹ 0,1 điểm phần trăm, đưa mức lãi suất lên 4,4%/năm. Mức lãi suất cao nhất trên thị trường hiện đạt 4,75%/năm, tương đương trần quy định của Ngân hàng Nhà nước đối với tiền gửi dưới 6 tháng, cho thấy nhu cầu huy động vốn ngắn hạn đang có dấu hiệu tăng lên.

Nguồn: Vneconomy tổng hợp từ biểu lãi suất các ngân hàng thương mại
Nguồn: Vneconomy tổng hợp từ biểu lãi suất các ngân hàng thương mại

Hiện có 6 ngân hàng niêm yết mức trần này gồm Bắc Á Bank, BVBank, OCB, PGBank, PVcomBank và VCBNeo. Đông Á Bank đứng sát với 4,7%/năm, trong khi nhóm các ngân hàng như Việt Á Bank, MSB, Nam Á Bank, NCB, Sacombank, VietBank, VPBank, LPBank và SHB dao động trong khoảng 4,4–4,6%/năm.

Nhìn chung, nhóm ngân hàng thương mại do Nhà nước chi phối vẫn là nhóm có lãi suất thấp nhất thị trường, với mức 2,1%–2,6%/năm ở kỳ hạn 1 tháng và 2,4%–2,9%/năm ở kỳ hạn 3 tháng. Trong khi đó, LPBank là ngân hàng duy nhất điều chỉnh tăng ở cả hai kì hạn dưới 6 tháng.

Trong khi đó, các ngân hàng trong nhóm Big4 gồm BIDV, Agribank, Vietcombank và VietinBank tiếp tục neo lãi suất huy động ở ngưỡng thấp hơn một nửa so với mặt chung. Cụ thể, Agribank niêm yết 2,6%/năm cho kỳ hạn 1 tháng, còn BIDV, VietinBank và Vietcombank cùng ở mức 2,1%/năm.

Diễn biến tại kỳ hạn 3 tháng không có nhiều khác biệt. Ngoại trừ LPBank tăng nhẹ lên 4,4%/năm, các ngân hàng còn lại vẫn giữ nguyên biểu lãi suất.

Mức trần 4,75%/năm tiếp tục được ghi nhận tại nhóm ngân hàng nói trên, trong khi một số đơn vị như Đông Á Bank, NCB, VPBank và Nam Á Bank niêm yết mức tiệm cận, khoảng 4,6–4,7%/năm. Phần lớn các ngân hàng còn lại duy trì lãi suất trên 3,5%/năm.

Trong nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, ba ngân hàng là Vietcombank, BIDV và VietinBank vẫn giữ nguyên lãi suất ở mức 2,4%/năm. Cao nhất trong nhóm là Agribank với 2,9%/năm.

Nguồn: Vneconomy tổng hợp từ biểu lãi suất các ngân hàng thương mại
Nguồn: Vneconomy tổng hợp từ biểu lãi suất các ngân hàng thương mại

Tại kỳ hạn 6 tháng, mặt bằng lãi suất gần như đi ngang so với tháng 7. Mức cao nhất thuộc về Bắc Á Bank với 7,05%/năm, tiếp đến là PGBank với 6,6%/năm. Các ngân hàng như VCBNeo, LPBank, BVBank và OCB niêm yết trong khoảng 6,4–6,5%/năm. Ngược lại, nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì mức thấp hơn đáng kể, phổ biến từ 3,5–4,0%/năm.

Với kỳ hạn 12 tháng, HDBank đang dẫn đầu với mức 7,2%/năm, theo sau là Bắc Á Bank với 7,1%/năm. Nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước giữ ổn định quanh 5,9%/năm, trong khi SeABank là đơn vị niêm yết thấp nhất, khoảng 5%/năm.

Nguồn: Vneconomy tổng hợp từ biểu lãi suất các ngân hàng thương mại
Nguồn: Vneconomy tổng hợp từ biểu lãi suất các ngân hàng thương mại

Tuy nhiên, khác với lãi suất huy động kì hạn ngắn, một số ngân hàng bắt đầu điều chỉnh lãi suất ở kì hạn 12 tháng. Kiên Long Bank và SeAbank là hai ngân hàng điều chỉnh giảm 0,3 đến 0,4 điểm phần trăm so với tháng 7, xuống còn 5,2% và 4,8%. Trong khi đó, LPBank và VPBank tăng lần lượt 0,45 và 0,2 điểm phần trăm, lên mốc 6,75 và 6%.

So sánh giữa các kỳ hạn cho thấy mức lãi suất 12 tháng thường cao hơn kỳ hạn 6 tháng từ 1,0 đến 2,4 điểm phần trăm. Ba ngân hàng BIDV, Vietcombank và VietinBank ghi nhận mức chênh lệch lớn nhất, khoảng 2,4 điểm phần trăm. Trong khi đó, một số ngân hàng như ABBank, VCBNeo, VPBank và Kiên Long Bank có mức lãi suất giữa hai kỳ hạn gần như tương đương.

Nguồn: Vneconomy tổng hợp từ biểu lãi suất các ngân hàng thương mại
Nguồn: Vneconomy tổng hợp từ biểu lãi suất các ngân hàng thương mại

Với kỳ hạn 24 tháng, lãi suất niêm yết tại các ngân hàng vẫn giữ xu thế đi ngang. Mức lãi suất cao nhất thuộc về MBBank với 7%. Theo sau là Bắc Á Bank, LPBank, OCB, PGBank với mức lãi suất dao động từ 6,8 – 6,95%.

Dù mức lãi suất niêm yết cao nhất chỉ quanh ngưỡng 7%/năm, áp lực cạnh tranh huy động vốn trên thực tế vẫn khá lớn. Theo ghi nhận của phóng viên trong vai người gửi tiền, thay vì công bố điều chỉnh công khai, một số ngân áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng gửi số tiền lớn, qua đó nâng mức lợi suất thực nhận thêm khoảng 2–2,5 điểm phần trăm khi đáp ứng các điều kiện về quy mô tiền gửi, kỳ hạn hoặc sử dụng sản phẩm đi kèm.

Nguồn: Vneconomy tổng hợp từ biểu lãi suất các ngân hàng thương mại
Nguồn: Vneconomy tổng hợp từ biểu lãi suất các ngân hàng thương mại

Các mức lãi suất tiết kiệm nói trên đều dành cho tiền gửi trực tiếp tại quầy của khách hàng cá nhân. Lãi suất tiền gửi online cao hơn lãi suất tại quầy từ 0,3 đến 3 điểm phần trăm, tuỳ từng ngân hàng. Các ngân hàng đều có những chính sách lãi suất riêng áp dụng cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, tuỳ thuộc vào giá trị tiền gửi. Ngoài ra, mức lãi suất huy động thực tế có thể thay đổi tùy vào tình hình cân đối vốn của từng chi nhánh ngân hàng.

Theo báo cáo Triển vọng vĩ mô mới công bố của Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS), mặt bằng lãi suất huy động đã ghi nhận xu hướng tăng trong nửa đầu năm 2026, chủ yếu tập trung ở các kỳ hạn trung và dài hạn.

Dữ liệu khảo sát của VCBS cho thấy, nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước điều chỉnh tăng lãi suất tại các kỳ hạn dài từ 12 đến 24 tháng, với mức cao nhất đạt 5,90%/năm, tương ứng mức tăng khoảng 70 điểm cơ bản. Trong khi đó, diễn biến tại khối ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân có sự phân hóa rõ nét.

Nhóm ngân hàng quy mô vừa ghi nhận mức tăng đáng kể ở các kỳ hạn trên 6 tháng, với biên độ tăng khoảng 38 – 47 điểm cơ bản. Ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ, xu hướng biến động không đồng nhất khi một số tổ chức điều chỉnh tăng lãi suất từ 61 - 109 điểm cơ bản, trong khi một số khác lại giảm cục bộ từ 21 - 50 điểm cơ bản tại một số kỳ hạn, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đầu năm đã ở mức tương đối cao.

Theo VCBS, áp lực đối với lãi suất huy động vẫn hiện hữu khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn duy trì ở mức cao, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế tiếp tục gia tăng. Điều này buộc các ngân hàng phải duy trì mức lãi suất đủ hấp dẫn, đặc biệt ở các kỳ hạn dài, nhằm đảm bảo nguồn vốn và kiểm soát rủi ro thanh khoản.

VCBS đánh giá mặt bằng lãi suất huy động nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong thời gian tới. Nguyên nhân là xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ và duy trì lãi suất cao của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới trong nửa cuối năm 2026 có thể tạo áp lực lên lãi suất trong nước.

Bên cạnh đó, vào giai đoạn cuối năm, khi nhu cầu tín dụng thường gia tăng, áp lực tăng lãi suất có thể xuất hiện, chủ yếu tập trung ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân.

Ngoài ra, rủi ro từ biến động giá dầu trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng có thể gây áp lực lên lạm phát và tỷ giá, qua đó thu hẹp dư địa điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian tới.

Giá vàng trong nước đi ngược giá thế giới

Trong phiên sáng 7/8, giá mua, bán vàng miếng SJC và vàng nhẫn tại hầu hết các đơn vị kinh doanh giảm từ 300 nghìn – 500 nghìn đồng/lượng, neo tại mức phổ biến 139,2 triệu – 142,2 triệu đồng/lượng, 0,35% so với chốt phiên 6/8. Diễn biến này trái chiều với mức tăng 0,6% của giá vàng thế giới...

CUBHCM: Khả năng thích ứng - chìa khóa cho tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp

Trong bối cảnh lạm phát, lãi suất và tỷ giá tiếp tục biến động, CUBHCM phối hợp cùng IVB tổ chức CONNECT 2026, chia sẻ các góc nhìn về triển vọng kinh tế, quản trị ngân quỹ, phòng ngừa rủi ro ngoại hối và ứng dụng AI nhằm hỗ trợ doanh nghiệp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.

Ba giải pháp chiến lược nhằm cán mốc xuất khẩu 74 tỷ USD

Thị trường xuất khẩu 7 tháng qua ghi nhận hàng loạt mặt hàng bị sụt giảm như gạo, cà phê, sầu riêng… Chỉ còn chưa đầy 5 tháng để đạt được mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Chính phủ giao là 72,4 tỷ USD và phấn đấu vượt mốc 74 tỷ USD, hàng loạt các giải pháp chiến lược cần được gấp rút triển khai một cách đồng bộ, thực tế và hiệu quả.

Ứng dụng CUB Vietnam của CUBHCM ghi dấu tại giải thưởng fintech khu vực

Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ tài chính trên thiết bị di động đang thúc đẩy các ngân hàng đổi mới mô hình cấp tín dụng. Với hơn 1,1 triệu người dùng kể từ khi ra mắt năm 2024, ứng dụng CUB Vietnam của CUBHCM vừa được vinh danh tại Asian Banking & Finance Fintech Awards 2026.

Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy