Số liệu được công bố tại hội thảo trực tuyến: “Hành trình một năm EVFTA – Khởi đầu thuận lợi và những bước tiếp theo” mới đây cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2021, thương mại song phương giữa Việt Nam và châu Âu (EU) đạt 27,67 tỷ USD, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, xuất khẩu từ Việt Nam sang EU đạt 19,67 tỷ USD tăng trên 18% và nhập khẩu từ EU vào Việt Nam đạt 8 tỷ USD, tăng trên 19%.
Theo đánh giá của ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU đã ghi nhận sự tăng trưởng tốt, ngay cả so với thời kỳ trước đại dịch. Mức tăng trưởng khả quan được nhận định có vai trò hỗ trợ đáng kể từ Hiệp định EVFTA, đặc biệt trong bối cảnh thị trường diễn biến phức tạp, khó lường.
Cùng chung nhận định trên, ông Jean Jacques Bouflet, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (Eurocham), bổ sung: con số trên 27 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu là một thành tích đáng chú ý khi xét đến đợt bùng phát Covid-19 ngày càng trầm trọng ở Việt Nam kể từ tháng 4. Điều này sẽ còn gia tăng hơn nữa khi Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA) có hiệu lực sau khi hiệp định này đã được phê chuẩn ở mỗi quốc gia thành viên EU. Khảo sát của EuroCham (BCI) cho thấy gần 2/3 số thành viên đã được hưởng lợi kể từ khi EVFTA có hiệu lực.
Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thông tin thêm, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng được ưu đãi thuế quan theo EVFTA của Việt Nam cũng đạt được mức cao nhất so với năm đầu thực thi của bất kỳ FTA nào khác.
Theo số liệu từ Bộ Công Thương, 5 tháng cuối năm 2020, tỷ lệ này là 14,8% (quan sát của VCCI cho thấy tỷ lệ này gấp 2 lần tỷ lệ sử dụng ATIGA (Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN), gấp 7 lần AIFTA (Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ), gấp hai lần tỷ lệ tận dụng các thị trường mới của Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong năm đầu. Nửa đầu năm 2021, tỷ lệ này đã tăng lên tới mức 29%.
Không chỉ vậy, đầu tư từ EU vào Việt Nam cũng gia tăng. Tính đến tháng 6/2021, EU có 2.221 dự án (tăng 142 dự án so với cùng kỳ năm 2020) từ 26/27 quốc gia thuộc EU còn hiệu lực tại Việt Nam với vốn đầu tư đăng ký đạt 22,216 tỷ USD (tăng 449 triệu USD so với cùng kỳ năm 2020).
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan ông Phú cho rằng dù EU là thị trường lớn, nơi hứa hẹn cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, cùng việc cắt giảm thuế quan mạnh mẽ, song dường như doanh nghiệp Việt thời gian một năm qua không những chưa khai thác được triệt để lợi thế mang lại từ EVFTA, mà còn đối mặt với rất nhiều những thách thức. Đó là những đòi hỏi khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, lao động, môi trường… trong khi không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được các yêu cầu. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh không cân sức với doanh nghiệp EU ngay tại thị trường nội địa.
Để tận dụng được lợi thế từ hiệp định, theo ông Phú, các doanh nghiệp cần chủ động về mọi mặt, trong đó có việc chủ động tìm hiểu các cam kết của Hiệp định, chủ động chuẩn bị năng lực, nguồn hàng, nâng cao sức cạnh tranh, liên kết để tạo chuỗi cung ứng, hoàn thiện chuỗi giá trị từ sản xuất- chế biến - phân phối… Như vậy mới đảm bảo được chất lượng sản phẩm, đáp ứng được các yêu cầu của Hiệp định và tiêu chuẩn cao của EU.
Ngoài ra, cần nâng cao trách nhiệm xã hội, chú trọng trong việc thực hiện các quy định về phát triển bền vững của Hiệp định như các tiêu chuẩn về lao động, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học… đây là những vấn đề mà EU quan tâm.
Còn theo ông Lộc, ngay thời điểm này và thời gian tới, doanh nghiệp tại Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới khó khăn hơn, thách thức hơn dưới áp lực chưa từng có của dịch bệnh ở Việt Nam. Dịch bệnh khiến chuỗi sản xuất bị đứt gãy nghiêm trọng, từ việc thiếu lao động, đến phải ngừng sản xuất do không đáp ứng được điều kiện làm việc trong giãn cách, từ việc thiếu hụt nguồn đầu vào đến việc không thể giải phóng nguồn đầu ra do ách tắc trong khâu vận chuyển liên tỉnh.
Ở các khu vực tâm dịch phía Nam, đa số các doanh nghiệp không có khả năng đáp ứng được các điều kiện để tiếp tục sản xuất. Với các doanh nghiệp xuất khẩu, không chỉ đầu vào và sản xuất gặp rủi ro, đầu ra cũng cực kỳ phức tạp khi đơn hàng không thể xuất theo kế hoạch…
Để xử lý tất cả những nguy cơ cả hiện hữu và trong tương lai này, ông Lộc cho rằng cần rất nhiều giải pháp từ cả chính sách của Nhà nước và chiến lược riêng của doanh nghiệp. Trong các giải pháp đó, EVFTA có thể đóng góp và là một trợ lực ý nghĩa cho doanh nghiệp trong các nỗ lực vượt qua dịch bệnh để tiếp tục kinh doanh trong thời gian tới nếu chúng ta khai thác hiệu quả các khía cạnh thích hợp. “Trong quá trình khai thác tối đa lợi thế EVFTA để khôi phục sản xuất kinh doanh, tôi tin rằng sự hợp tác giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI đến từ EU sẽ có ý nghĩa rất quan trọng. Cùng nhau vượt qua khó khăn chắc chắn sẽ hiệu quả hơn đi một mình”, ông Lộc khẳng định.
Đồng tình với ý kiến của lãnh đạo VCCI, ông Jean Jacques Bouflet nhấn mạnh, nếu muốn xây dựng mối quan hệ Việt Nam – EU trên bước khởi đầu đầy hứa hẹn này và khai thác toàn bộ tiềm năng các thỏa thuận lịch sử của hiệp định, chúng ta cần phải làm việc cùng nhau.
Theo ông Jean Jacques Bouflet: “EVFTA sẽ không thành công nếu không có nỗ lực phối hợp giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và châu Âu. Nói cách khác, việc đi vào thực hiện EVFTA không phải là kết thúc con đường. Chúng ta cần nỗ lực tương tự trong thập kỷ tiếp theo như chúng ta đã làm trong thập kỷ trước”.
Đại diện EuroCham chia sẻ thêm, khảo sát BCI cho thấy rào cản lớn nhất đối với các công ty EU tại Việt Nam vẫn là thủ tục hành chính. Hơn 1/3 thành viên của EuroCham báo cáo các vấn đề như hải quan và quy trình xuất nhập khẩu là một rào cản đối với việc thực hiện. Trong khi đó, khoảng 1/5 báo cáo khó khăn từ các rào cản kỹ thuật đối với thương mại.
“Để đảm bảo hoạt động thành công, đòi hỏi các công ty kinh doanh tại Việt Nam và EU phải nêu rõ các vấn đề và đưa ra các giải pháp cụ thể dựa trên tình hình thực tế”, ông Jean Jacques Bouflet khuyến nghị, đồng thời khẳng định: “Thương mại tự do, công bằng và dựa trên quy tắc sẽ là lộ trình phục hồi của chúng ta sau khi đại dịch này được kiểm soát trở lại. Vì vậy, bất chấp những thách thức ngắn hạn đáng kể này, chúng ta không được đánh mất những cơ hội dài hạn mà EVFTA mang lại”




Đại hội đại biểu toàn quốc Liên minh Hợp tác xã Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện quan trọng trong việc định hướng phát triển khu vực kinh tế tập thể, đặt mục tiêu đến năm 2031 cả nước có 45.000 hợp tác xã, 8 triệu thành viên và đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh...
Diễn biến kinh tế vĩ mô trong tháng 7/2026 và nửa đầu tháng 8/2026 cho thấy dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam của hàng loạt tổ chức tài chính trong nước và quốc tế đã có sự “đảo chiều” đáng chú ý. Không chỉ các dự báo được điều chỉnh tăng, mà đáng lưu ý hơn là biên độ và tốc độ điều chỉnh. Diễn biến này cho thấy nền kinh tế đang đứng trước những cơ hội mới, song đồng thời vẫn phải đối mặt với không ít thách thức đan xen...
Đất nông nghiệp từ lâu được nhìn nhận chủ yếu như tư liệu sản xuất, nhưng những biểu hiện thoái hóa, xói mòn, suy giảm độ phì đang đặt ra yêu cầu thay đổi cách ứng xử. Các chuyên gia cho rằng cần chuyển từ tư duy “quyền đối với đất” sang “quyền của đất”, qua đó đề cao trách nhiệm của con người trong bảo vệ, phục hồi và duy trì sức khỏe đất.
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.
Ngày 21/8/2026, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ban hành Công điện hỏa tốc số 14/CĐ-TL-ATĐ chỉ đạo các địa phương khu vực Đông Bắc Bộ và từ Thanh Hóa đến Nghệ An triển khai cấp bách các biện pháp bảo đảm an toàn công trình thủy lợi, cấp nước sạch nông thôn và phòng, chống ngập úng sản xuất nông nghiệp trước diễn biến mưa lớn do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới.
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.