Chiều 30/9/2026 tại Ninh Bình, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Ninh Bình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổ chức hội thảo khoa học “Phát triển nông nghiệp sinh thái xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững”.
Phát biểu tại hội thảo, ông Ngô Đông Hải, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, nhấn mạnh nông nghiệp trong giai đoạn mới không chỉ dừng ở mục tiêu bảo đảm lương thực, thực phẩm, mà phải hướng tới nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.
Trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, tài nguyên suy giảm, ô nhiễm môi trường gia tăng, cùng yêu cầu giảm phát thải và tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế, cần chuyển mạnh từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp, tạo giá trị gia tăng cao và bền vững.
Theo ông Trần Huy Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, nông nghiệp hiện nay không thể chỉ được nhìn bằng sản lượng. Sản xuất phải đồng thời tạo giá trị gia tăng, bảo vệ đất và nước, gìn giữ đa dạng sinh học, giảm phát thải, thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu, đồng thời tạo sinh kế bền vững cho người dân nông thôn.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Ninh Bình có diện tích tự nhiên gần 4.000 km2, dân số trên 4,4 triệu người, với không gian sinh thái đa dạng từ đồng bằng, bán sơn địa, núi đá vôi đến vùng ven biển, đất ngập nước, rừng đặc dụng và rừng ngập mặn.
"Không gian phát triển mới tạo điều kiện để tổ chức lại nền nông nghiệp theo hướng đa ngành, đa sản phẩm, đa giá trị, gắn sản xuất với chế biến, thương mại, logistics, du lịch, bảo tồn thiên nhiên và văn hóa. Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi cách tiếp cận quản trị phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu", ông Tuấn lưu ý.
Toàn tỉnh Ninh Bình hiện có trên 400 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, 1.074 hợp tác xã nông nghiệp và hơn 120 chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Có 279 vùng trồng được cấp mã số, với tổng diện tích trên 7.500 ha".
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, xác định mục tiêu đến năm 2030 Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường với tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, giá trị sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản trên một ha đất sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đạt từ 220 triệu đồng trở lên.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Ninh Bình đang triển khai Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2026-2030 cùng các chương trình về tăng trưởng xanh, khuyến nông, xây dựng nông thôn mới, kinh tế tập thể, OCOP, truy xuất nguồn gốc và phát triển thị trường.
Đáng chú ý, từ năm 2024, tỉnh phối hợp với Học viện Nông nghiệp Việt Nam và đối tác Nhật Bản triển khai mô hình canh tác lúa tiết kiệm nước, giảm phát thải, hướng tới tạo tín chỉ carbon. Đến nay, diện tích thực hiện đã mở rộng trên 8.800 ha tại 21 xã; dự kiến vụ Xuân năm 2027 tăng lên trên 15.000 ha.
Trong lĩnh vực thủy sản, vùng nuôi ngao đạt chứng nhận ASC tại xã Kim Đông có quy mô khoảng 1.205 ha, tạo nền tảng phát triển thủy sản bền vững gắn với quản lý môi trường, truy xuất nguồn gốc và thị trường xuất khẩu.
Một số mô hình trồng trọt, chăn nuôi và chế biến cũng đang từng bước tận dụng phụ phẩm, chất thải làm phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, giá thể, nguyên liệu trồng nấm hoặc năng lượng sinh học, qua đó hình thành các vòng liên kết tuần hoàn trong sản xuất.
Tuy vậy, quá trình chuyển đổi vẫn đối mặt nhiều thách thức. Sản xuất tại một số nơi còn nhỏ lẻ, liên kết chuỗi chưa bền vững, chế biến sâu và giá trị gia tăng còn thấp; việc thu gom, phân loại, xử lý và tái sử dụng phụ phẩm chưa đồng bộ. Dữ liệu về vùng nguyên liệu, chất lượng, môi trường và truy xuất nguồn gốc còn phân tán, trong khi năng lực ứng dụng công nghệ giữa các chủ thể chưa đồng đều.
Trình bày tham luận tại hội thảo, TS Nguyễn Sỹ Linh, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, cho biết quá trình chuyển đổi từ các mô hình nông nghiệp sinh thái sang hệ thống sản xuất lương thực bền vững ở Việt Nam đang đối mặt với sáu “nút thắt” chủ yếu.
Thứ nhất: Tư duy dự án còn mạnh hơn tư duy chuyển đổi. Nhiều mô hình phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ trong 2-3 năm, nhưng suy giảm khi dự án kết thúc do chưa hình thành được động lực thị trường, cơ chế tài chính và tổ chức sản xuất bền vững.
Thứ hai: Chính sách còn phân mảnh theo ngành, trong khi nông nghiệp sinh thái liên quan đồng thời đến đất đai, nước, môi trường, khí hậu, thương mại, tài chính, khoa học công nghệ và phát triển nông thôn. Vì vậy, cần chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị tích hợp theo vùng sinh thái và chuỗi giá trị.
Thứ ba: Người nông dân chưa nhận được phần giá trị tương xứng với chi phí bỏ ra để cải thiện đất, quản lý nước, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và bảo tồn đa dạng sinh học. Trong khi đó, nguyên tắc đặt ra là người tạo ra giá trị sinh thái phải được chia sẻ giá trị đó.
Thứ tư: Thiếu hệ thống đo lường kết quả và tác động. Cần chuyển từ đếm số mô hình, diện tích, hộ tham gia sang đánh giá mức cải thiện đất, lượng nước và hóa chất sử dụng, phát thải, đa dạng sinh học, thu nhập nông dân và giá trị gia tăng trong chuỗi.
Thứ năm: Thị trường cho sản phẩm sinh thái chưa đủ mạnh. Cần đồng thời phát triển truy xuất nguồn gốc, thương hiệu vùng, logistics lạnh, chế biến, mua sắm công xanh, xuất khẩu, tín dụng xanh và cơ chế chia sẻ giá trị từ tín chỉ carbon.
Thứ sáu: Năng lực cán bộ và tổ chức sản xuất chưa theo kịp, đòi hỏi đội ngũ quản lý phải am hiểu cả kỹ thuật, kinh tế, thị trường, sinh thái, dữ liệu và quản trị hợp tác xã.
Để tháo gỡ, TS Linh đề xuất năm chuyển đổi cơ bản: từ tối đa hóa sản lượng sang tối ưu hóa tổng giá trị; từ hộ riêng lẻ sang vùng sinh thái; từ sản phẩm sang chuỗi giá trị; từ quản lý đầu vào sang quản lý kết quả; và từ trợ cấp mô hình sang đầu tư cho năng lực hệ thống.
Theo đó, thay vì chỉ hỗ trợ vật tư cho từng mô hình, cần đầu tư đồng bộ vào thủy lợi, logistics, dữ liệu, truy xuất, khuyến nông, nghiên cứu ứng dụng, tín dụng, bảo hiểm và năng lực hợp tác xã, qua đó hình thành một “hệ sinh thái hỗ trợ nông nghiệp sinh thái” đủ sức duy trì quá trình chuyển đổi lâu dài.
Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 8-12/10 tại Hà Nội, với sự tham gia của gần 100 gian hàng đền từ hơn 50 đơn vị thuộc 18 tỉnh, thành phố. Điểm mới của sự kiện năm nay là tăng cường ứng dụng công nghệ số, livestream bán hàng, truy xuất nguồn gốc, đồng thời kết nối sản phẩm làng nghề với du lịch nông nghiệp, nông thôn...
Đề án “Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045” chính thức được ban hành đánh dấu bước chuyển chiến lược quan trọng, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước trước những biến động giá trên thị trường quốc tế...
Trước việc Nam Phi khởi xướng điều tra xi măng Việt Nam với biên độ bán phá giá cáo buộc lên tới 37,04%, Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị các doanh nghiệp xuất khẩu cần đặc biệt lưu ý tính khắt khe của quy trình và chủ động hợp tác chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi...
Từ khoản đầu tư 450 triệu USD của Mỹ vào Elmet đến kế hoạch 8 tỷ yên của Mitsubishi Materials tại Nhật Bản, dòng vốn mới đang hướng tới nhiều mắt xích của chuỗi vonfram. Đáng chú ý, sau hơn 12 năm hợp tác với MSR, Elmet cũng quyết định trở thành cổ đông và cam kết sản lượng trong hơn 8 năm, tăng cường kết nối giữa nền tảng tại Việt Nam với chuỗi cung ứng quốc tế.
Để khai thác hiệu quả thị trường Malaysia, cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại trực tiếp, tăng cường kết nối với các hệ thống phân phối lớn và nhà nhập khẩu sở tại; chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, chứng nhận Halal, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu kỹ thuật của thị trường…
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, khả năng Việt Nam trở lại với trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của giới đầu tư.