
Chia sẻ tại Hội thảo “Kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi phát triển cho thuê tài chính ở Việt Nam” do Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam phối hợp Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) tổ chức sáng 17/7 tại Hà Nội, ông Nguyễn Tuấn Anh, Chủ tịch Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, cho biết tiềm năng phát triển đối với ngành cho thuê tài chính tại Việt Nam rất lớn.
“Chúng ta có một nền kinh tế năng động với quy mô đạt hơn 400 tỷ USD; có hơn 800 nghìn doanh nghiệp, hơn 5,2 triệu hộ kinh doanh với nhu cầu về vốn, nhất là vốn trung dài hạn rất cao”, ông Tuấn Anh nói.
Tuy nhiên đến nay, thị trường Việt Nam mới có khoảng 10 công ty cho thuê tài chính đăng ký còn hoạt động, dư nợ cung cấp cho khách hàng trong nền kinh tế đạt gần 40 nghìn tỷ đồng (theo con số tổng hợp của 8 công ty thành viên và liên kết trong Hiệp hội Cho thuê tài chính), chiếm 0,33% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế.
Dù dư nợ cho thuê tài chính chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ song những năm qua cho thuê tài chính đã trở thành kênh cung ứng vốn trung dài hạn rất nhiều ưu điểm cho các doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Khi đi thuê tài chính, các doanh nghiệp, hộ dân không phải thế chấp tài sản, giá trị đi thuê có thể lên tới 100% giá trị tài sản.
Nhờ đó, hàng ngàn khách hàng được hỗ trợ vốn để đầu tư tài sản là máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, dây chuyền sản xuất. Bên cạnh đó, một số công ty cho thuê tài chính còn cho vay bổ sung vốn lưu động đối với khách hàng thuê tài chính…
Theo ông Phạm Xuân Hòe, Tổng Thư kỳ Hiệp hội Cho thuê tài chính, doanh thu từ hoạt động kinh doanh bình quân 5 năm gần nhất đạt khoảng trên 1 ngàn tỷ đồng/năm; chất lượng tín dụng được kiểm soát tốt, nợ xấu các công ty hầu hết dưới 1%.
Tuy nhiên, hoạt động cho thuê tài chính còn có những khó khăn hạn chế mà ở đó nguyên nhân quan trọng là từ hành lang pháp lý quy định về hoạt động của cho thuê tài chính cũng như chính sách về thuế, phí đối loại hình hoạt động cấp tín dụng bằng tài sản đặc thù này.
Ông Nguyễn Thường Lạng, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng cho thuê tài chính là hình thức khá phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam – vốn có quy mô nhỏ, khó đáp ứng được các điều kiện vay vốn của ngân hàng.
Do vậy, ông Lạng cho rằng cần kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để phát triển mô hình này nhằm đưa cho thuê tài chính trở thành kênh dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế.
Cùng quan điểm, TS. Cấn Văn Lực đề xuất nâng dư nợ cho thuê tài chính lên 3-5% tổng dư nợ nền kinh tế đến năm 2025. Theo đó, vị chuyên gia cho rằng cần có một mục riêng liên quan tới cho thuê tài chính trong Luật các Tổ chức tín dụng dự kiến sẽ thông qua vào tháng 10 năm nay với 3 điểm chính.
Thứ nhất, cần mở rộng hơn cho các công ty cho thuê tài chính, cho họ đi vay các tổ chức tín dụng khác kể cả trung dài hạn.
Thứ hai, bản thân các công ty phải công khai, minh bạch để phát hành trái phiếu doanh nghiệp như các tổ chức tín dụng, còn không thể có câu chuyện chỉ hút tiền gửi từ cá nhân theo thông lệ quốc tế.
Thứ ba, cơ chế ưu đãi phải được cơi nới, rõ ràng về thuế, phí. Các doanh nghiệp phải được mở rộng hoạt động tư vấn, điều này hoàn toàn nằm trong năng lực các công ty, không chỉ các đơn vị đi thuê mà bất kỳ đơn vị nào cũng có thể được tư vấn.
Từ góc độ quốc tế, ông Jinchang Lai, chuyên gia trưởng, Nhóm tư vấn các định chế tài chính khu vực châu Á và Thái Bình Dương, IFC cho biết công ty cho thuê tài chính thực chất là các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi và ngành này cần được quản lý và thúc đẩy phát triển khác với các định chế tài chính nhận tiền gửi, chính là các ngân hàng hiện nay.
“Vấn đề đặt ra hiện nay là liệu Việt Nam đã có nhìn nhận đúng đắn về vai trò của ngành này trong nền kinh tế chưa?”, chuyên gia IFC đặt câu hỏi.
Còn theo TS. Nguyễn Đình Cung, chuyên gia kinh tế, vấn đề ở đây vẫn là câu chuyện về thể chế, tức là chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Trong khi đó, quy định của các văn bản luật còn chưa rõ ràng, chồng chéo, nên dễ có sai sót, không ai dám làm, khiến thị trường hầu như không thể phát triển.
Do vậy, để lĩnh vực cho thuê tài chính phát triển đúng tiềm năng, TS. Cung cho rằng cần một tư duy mới hoàn toàn, một cách tiếp cận khác biệt.
“Theo đó, không nên gắn với Luật Các tổ chức tín dụng vốn có rất nhiều quy định ràng buộc, mà nên tạo ra một cơ sở pháp lý riêng, một loại nghị định chỉ cho thị trường cho thuê tài chính”, ông Cung nêu quan điểm.




Năm 2026 tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: là năm đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ba phần tư chặng đường của năm đã đi qua, nền kinh tế đạt những kết quả tích cực, song vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết để hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả năm.
Ngày 14/10, chương trình Vietnam Tourism Roadshow diễn ra tại Amsterdam (Hà Lan), giới thiệu hình ảnh đất nước, con người và tiềm năng du lịch Việt Nam tới các đối tác châu Âu. Thông qua hoạt động quảng bá điểm đến, trình diễn văn hóa nghệ thuật và kết nối doanh nghiệp, sự kiện góp phần đưa các giá trị văn hóa Việt Nam đến gần hơn với công chúng quốc tế, đồng thời mở rộng cơ hội hợp tác du lịch giữa hai nước.
Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm, Tổng thống Liên bang Thụy Sĩ Guy Parmelin cùng Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao gồm đại diện Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp Thụy Sĩ sẽ thăm chính thức Việt Nam từ ngày 17 đến ngày 18 tháng 10 năm 2026...
Trong 9 tháng đầu năm 2026, cả nước đưa vào khai thác 395 km đường cao tốc, nâng tổng chiều dài tuyến chính đã khai thác và thông xe kỹ thuật lên 3.345 km...
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đầu tư hạ tầng giao thông quy mô lớn, hợp tác Việt Nam – Pháp có thể hỗ trợ tiếp cận công nghệ và kinh nghiệm vận hành. Tuy nhiên, để tạo ra giá trị lâu dài, Việt Nam cần khai thác dữ liệu hiệu quả, bảo đảm an toàn hệ thống và nâng cao năng lực triển khai trong nước...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Các đối tượng lừa đảo trên không gian mạng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, mạo danh cán bộ cơ quan Bảo hiểm xã hội, công an hoặc cán bộ phường/xã để tiếp cận người dân, lợi dụng nhu cầu tra cứu thông tin, thực hiện thủ tục và giải quyết quyền lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhằm đánh cắp thông tin cá nhân, chiếm đoạt tài sản.