
Theo báo cáo “Phát triển con người năm 2004” của UNDP, nhân sự làm R&D của Việt Nam có tới trên 50.000 người, nhiều gấp gần 5 lần Thái Lan và gần gấp 6 lần Malaysia.
Nhưng theo đánh giá của Viện Thông tin khoa học quốc tế (ISI), thì hiện tại Việt Nam mới chỉ theo kịp trình độ của các quốc gia nói trên ở thời điểm cách đây trên dưới 20 năm, tính theo tổng số các công trình khoa học và công nghệ trên đầu người.
Nhiều chuyên gia cho rằng, không hẳn hoàn toàn là nhân lực công nghệ cao của Việt Nam có trình độ hay năng lực kém hơn, bởi có một tỷ lệ rất cao đội ngũ này được đào tạo cơ bản ở nước ngoài. Tính không thống nhất, không chính quy, làm việc còn thiếu liên kết là những đặc tính đặc thù của hiện trạng nguồn nhân lực công nghệ cao.
Thiếu tính chính quy
Chuyên gia Phan Kim Ngọc, Trưởng phòng Nghiên cứu tế bào gốc - Đại học Khoa học tự nhiên Tp.HCM ví von: “Một đội quân khổng lồ, tâm huyết, khí thế hừng hực, tuyệt nhiên không ô hợp, nhưng lại hành quân lộn xộn, không đi đều bước, quân trang quân dụng không đồng bộ, không có hướng tác chiến chung,... nói chung, thiếu “điều lệnh” và thiếu “tư lệnh”. Ít nhiều tính chính quy trong mỗi thành viên của đội quân chưa được “tích hợp” để trở thành một đội quân mang đầy tính chính quy”.
PGS.TS Nguyễn Thiện Tống, Giám đốc Trung tâm Đào tạo công nghệ cao Tp.HCM than phiền: “Trên thực tế, chúng ta hầu như chỉ quan tâm đến tầm nhìn trước mắt, đó là đầu tư vào công nghệ cao, chỉ là sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, mà quên rằng cốt lõi là việc đầu tư và phát triển ngành công nghệ cao của đất nước.
Trong khi đó, các trường đại học trong nước gần như đứng ngoài cuộc, không gắn mình vào “nhịp đập” ngành công nghệ cao mà lẽ ra chính mình là nơi đào tạo trụ cột”. PGS Tống đưa ra giải pháp bắc cầu, theo đó đầu tư xây dựng và quy chế hóa cho các đại học nghiên cứu để phát triển hệ thống nghiên cứu khoa học theo cơ chế viện - trường - doanh nghiệp; xây dựng nền văn hóa nghiên cứu trong các trường đại học, các đô thị khoa học hay tòa nhà khoa học. Nói cách khác, các doanh nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ cao liên kết với trường đại học đào tạo nguồn lực cho mình.
Ông Trương Quang Học, thuộc Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng: ở Việt Nam, nguyên tắc chung để có được nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay là đào tạo thông qua nghiên cứu và cho nghiên cứu theo xu hướng hội nhập. Mô hình và luật về khu công nghệ cao kết hợp với công tác giáo dục và đào tạo sẽ góp phần không nhỏ thậm chí có tính quyết định, nhằm giải quyết vấn đề này.
Hình thành các mô hình liên kết nhóm
Một trong các biện pháp thúc đẩy chất lượng trong việc đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao là hình thành các nhóm, các tập thể nghiên cứu khoa học mạnh, qua đó tạo dựng các thủ lĩnh khoa học, và họ chính là những hạt nhân trong các tập thể nguồn nhân lực công nghệ cao.
Nhóm nghiên cứu khoa học cơ bản không giống như một cơ quan hành chính nhà nước, cũng không giống với cấu trúc nghiệp đoàn. Nhóm làm việc trên tinh thần không có lương cơ bản. Các khoản thu chi của nhóm phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu, kết quả chuyển giao công nghệ, phụ thuộc các đề tài khoa học hay dự án. Do vậy cấu trúc nhóm cần gọn nhẹ tối đa.
Nhóm này có vai trò như là một yếu tố có tính chất quyết định tới hình thức, quy mô và chất lượng của một hoạt động khoa học và công nghệ nào đó; và đồng thời là nền tảng quan trọng bậc nhất trong đào tạo, nhất là sau đại học (đối với các trường đại học phấn đấu trở thành đại học nghiên cứu). Trong đào tạo, nhóm nghiên cứu khoa học chú trọng việc đào tạo người tài, đào tạo các thủ lĩnh khoa học trong tương lai.
Theo chuyên gia Phan Kim Ngọc, để đánh giá năng lực của một nhóm nghiên cứu khoa học, vấn đề quan trọng nhất buộc phải có là: Nhóm nghiên cứu khoa học có thể thực hiện thành công một chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo một cách độc lập và có sức cạnh tranh sản phẩm.
Đồng thời, trong quá trình hoạt động, nhóm này phải tương tác với lãnh đạo chuyên môn, cũng như các thành viên của tổ chức khác, qua đó mọi thành viên trong nhóm có cơ hội học tập, tiếp thu, nắm bắt các kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật mới, cần thiết. Nhờ vậy, nhóm sẽ có đủ yếu tố tối thiểu, đưa vào chương trình nghiên cứu của phòng thí nghiệm, tạo ra các ý tưởng mới, các thành tựu khoa học mới cũng như các sản phẩm đào tạo và công nghệ mới.




Sở Nội vụ Hà Nội thông báo cắt giảm, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính và các quy định về việc làm, an toàn vệ sinh lao động. Nhiều thủ tục sẽ tạm dừng thực hiện kể từ ngày 1/7/2026 đến hết ngày 28/2/2027...
Tại địa phương, căn cứ số biên chế được cơ quan có thẩm quyền giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ lên phương án phân bổ biên chế công chức hằng năm, đối với các cơ quan sử dụng biên chế công chức của cấp tỉnh và cấp xã...
Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội dự báo trong tháng 6 và các tháng tiếp theo, nhu cầu tuyển dụng trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, xây dựng, cơ điện, logistics và sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì ở mức cao…
Các đại dự án hạ tầng và bất động sản đang tạo ra lực kéo khổng lồ cho thị trường lao động Hà Nội, tiêu biểu là các đợt tuyển dụng với quy mô hàng chục nghìn nhân sự phục vụ cho các đại dự án trên địa bàn thành phố…
Sở Nội vụ Hà Nội ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết thủ tục hành chính cấp lại, gia hạn giấy phép lao động; cấp lại, gia hạn giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài đang làm việc trên địa bàn thành phố...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.